Các nước sẵn sàng duy trì chính sách tiền tệ siêu lỏng trong năm 2021

Theo TTXVN
Các ngân hàng trung ương đang sẵn sàng cho việc duy trì các chính sách tiền tệ siêu nới lỏng trong năm 2021, ngay cả khi kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ phục hồi sau cuộc suy thoái do tác động của đại dịch COVID-19.
aa

fed

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

Theo đánh giá hàng quý về chính sách tiền tệ của hãng tin Bloomberg đối với 90% các nền kinh tế trên toàn cầu, không một ngân hàng trung ương lớn nào ở các nước phương Tây dự kiến tăng lãi suất trong năm nay. Giả định là các ngân hàng trung ương lớn muốn đảm bảo đà phục hồi trước khi bắt đầu cân nhắc thắt chặt chính sách tiền tệ.

Diễn biến của dịch khó đoán cùng với tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát tăng là những nguyên nhân chính khiến các ngân hàng trung ương chưa hành động. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bước vào năm 2021 với việc nỗ lực hết sức bằng chính sách tiền tệ để hỗ trợ sự phục hồi của nền kinh tế và không vội vàng giảm sự hỗ trợ này.

Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết, dù Mỹ đã đón nhận "ánh sáng cuối đường hầm" nhờ vắcxin ngừa COVID-19 sẽ được triển khai rộng rãi vào giữa năm, nhưng các quốc gia không nên vội vàng rút những biện pháp hỗ trợ.

Các quan chức của Fed đã nói sẽ duy trì lãi suất ở mức gần 0% cho đến ít nhất là năm 2023, đồng thời cam kết duy trì chương trình mua trái phiếu với ít nhất là 120 tỷ USD/tháng cho đến khi có tiến triển rõ ràng hơn trong việc đạt mục tiêu tối đa việc làm và lạm phát 2%.

Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã tăng quy mô chương trình mua trái phiếu khẩn cấp lên 1.850 tỷ euro (2.300 tỷ USD) vào tháng 12/2020 và kéo dài qua tháng 3/2022. Việc các nhà hoạch định chính sách có giảm quy mô chương trình này hay không sẽ phụ thuộc chủ yếu vào tình hình dịch.

Dù việc tiêm chủng vắcxub bắt đầu được tiêm đã đưa đến những sự lạc quan về triển vọng kinh tế, nhưng việc số ca mắc COVID-19 tăng mạnh và các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt tại Đức, nền kinh tế lớn nhất khu vực, đang ảnh hưởng đến triển vọng ngắn hạn. Các nhà kinh tế và các nhà đầu tư cũng đang chờ đánh giá chiến lược sắp tới của ECB.

Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) được cho là sẽ giữ nguyên lãi suất trong năm nay sau khi điều chỉnh chương trình kích thích trong năm 2020. Ngân hàng này đã kêu gọi việc đánh giá khi tìm kiếm các giải pháp để giảm các tác động không mong muốn và nâng cao hiệu quả của chính sách kiếm soát đường cong lãi suất.

Yêu cầu tăng tính bền vững của chính sách trong dài hạn hơn cho thấy thời gian để đạt được mục tiêu lạm phát kéo dài khi giá giảm với tốc độ nhanh nhất trong một thập kỷ vào cuối năm 2019. Tình hình dịch vẫn là yếu tố không chắc chắn nhất. Tuy nhiên, trước việc triển khai tiêm vắcxin rộng rãi vào đầu năm cùng với kế hoạch Thế vận hội sắp tới, các nhà quan sát sẽ theo dõi chặt chẽ khả năng BoJ có thể rút các biện pháp hỗ trợ vào tháng 9/2021.

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) thì đã hạ lãi suất xuống các mức thấp kỷ lục do đại dịch, với lãi suất các khoản vay kỳ hạn một năm giảm từ 3,25% xuống 2,95%. Ngân hàng này cũng đã sử dụng các công cụ định lượng như hạ lượng tiền mà các ngân hàng phải dự trữ và cấp 1.800 tỷ nhân dân tệ (278 tỷ USD) cho các ngân hàng để cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tuy nhiên, tốc độ mở rộng bản cân đối kế toán của PBoC khiêm tốn hơn so với các ngân hàng trung ương lớn khác, chủ yếu là do ngân hàng này có thể yêu cầu các ngân hàng tăng các khoản vay và hy sinh lợi nhuận để hạ chi phí tài chính của doanh nghiệp.

Nhờ đó, tăng trưởng tín dụng tại Trung Quốc tăng mạnh, giúp nước này trở thành nền kinh tế lớn duy nhất tăng trưởng trong năm 2020. PBoC muốn đưa tăng trưởng tín dụng về mức phù hợp với tăng trưởng kinh tế trong năm 2021. Điều này có nghĩa tốc độ tăng trưởng tín dụng mới sẽ giảm so với năm 2020, có thể do việc bơm ít tiền mặt hơn vào hệ thống tài chính./.

Theo TTXVN

Theo TTXVN

Đọc thêm

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,300
Hà Nội - PNJ 140,300 143,300
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,300
Miền Tây - PNJ 140,300 143,300
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,300
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17568 17840 18416
CAD 17711 17985 18604
CHF 30684 31060 31702
CNY 0 3836 3932
EUR 28495 28712 29792
GBP 33576 33964 34901
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14231 14818
SGD 19771 20052 20622
THB 687 751 804
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,815 25,815 26,195
USD(1-2-5) 24,783 - -
USD(10-20) 24,783 - -
EUR 28,557 28,580 29,936
JPY 160.35 160.64 170.37
GBP 33,791 33,882 35,054
AUD 17,770 17,834 18,510
CAD 17,902 17,959 18,619
CHF 30,971 31,067 31,978
SGD 19,894 19,956 20,740
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 736.8 745.9 798.17
NZD 14,242 14,374 14,801
SEK - 2,544 2,634
DKK - 3,831 3,966
NOK - 2,657 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.37 - 6,709.49
TWD 739.25 - 895.07
SAR - 6,807.85 7,171.9
KWD - 82,065 87,324
AED - 6,823 7,353
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17747 17847 18770
CAD 17901 18001 19012
CHF 30954 30984 32566
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28683 28713 30446
GBP 33888 33938 35693
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14343 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19931 20061 20782
THB 0 716.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 06/10/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30