Cần chủ động giải pháp ứng phó trước xu hướng già hóa dân số

Đỗ Doãn
(TBTCO) - Ngày 29/11, tại TP. Hồ Chí Minh đã diễn ra hội thảo chuyên đề Aging Summit 2022. Hội thảo có chủ đề “Già hóa dân số - Cơ hội và thách thức cho thế hệ Millennials”, do Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam tổ chức nhằm nâng cao nhận thức của người dân về xu hướng già hóa dân số Việt.
aa

Đồng hành cùng sự kiện liên quan đến vấn đề già hóa dân số Việt là các tổ chức gồm: Viện Khoa học lao động và xã hội (ILSSA) và Viện nghiên cứu Y - Xã hội học (ISMS), chuyên trang Vietcetera... cùng đại diện các sở ban ngành.

Phát biểu tại hội thảo, ông Phương Tiến Minh - Tổng giám đốc Prudential Việt Nam (Prudential), cho rằng thích ứng với già hóa dân số và phát triển bền vững xã hội là vấn đề ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ cơ quan chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp (DN) và người dân nói chung.

Sự kiện Aging Summit 2022 là điểm nhấn trong chuỗi hoạt động của dự án “Cuộc sống độc lập khi về già” nhằm nâng cao nhận thức của người dân Việt Nam về già hóa dân số, do Prudential khởi xướng từ năm 2020 đến nay, với mong muốn thúc đẩy giới trẻ có kế hoạch và hành động để có một tuổi già độc lập, hạnh phúc.

''Là DN đóng vai trò kiểu mẫu trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, Prudential mong muốn đóng góp tiếng nói đến với cộng đồng. Bên cạnh các hoạt động phối hợp cùng các cơ quan nghiên cứu có chuyên môn, hỗ trợ các đề án liên quan đến già hóa dân số, một mục tiêu khác mà Prudential vẫn luôn đặt ra xuyên suốt dự án “Cuộc sống độc lập khi về già”, đó là nâng cao nhận thức và hành động của người dân về việc chủ động lên kế hoạch và chuẩn bị cho một tương lai độc lập ở cả ba khía cạnh: sức khỏe thể chất, tinh thần và tài chính'' - ông Minh nói.

Theo ông Bùi Tôn Hiến - Viện trưởng ILSSA, thông qua các kết quả khảo sát và nghiên cứu cho thấy, mức độ sẵn sàng chuẩn bị cho tuổi già độc lập của nhóm dân số trung niên chưa cao. Mặt khác, vấn đề già hóa đang đặt ra thách thức lớn cho Việt Nam khi tốc độ già hóa dân số nhanh trong khi nguồn lực kinh tế của đất nước còn hạn chế và hệ thống an sinh xã hội vẫn còn non trẻ.

Trong khuôn khổ của sự kiện, đại diện của ILSSA và ISMS đã có phần trình bày dựa trên các nghiên cứu “Mức độ sẵn sàng cho cuộc sống độc lập khi về già” (thực hiện năm 2021) và nghiên cứu “Nhận thức và hành động đảm bảo an ninh thu nhập cho tuổi già độc lập của nhóm dân số trong độ tuổi trung niên” (thực hiện năm 2022). Trên cơ sở đó, các diễn giả đã đề xuất các biện pháp nâng cao nhận thức và hành động của nhóm dân số 30 - 44 tuổi để đảm bảo an ninh thu nhập cho cuộc sống độc lập khi về già.

Đại diện Viện ILSSA trình bày nghiên cứu ''Mức độ sẵn sàng khi về già'' tại hội thảo. Ảnh Đỗ Doãn
Đại diện Viện ILSSA trình bày nghiên cứu ''Mức độ sẵn sàng khi về già'' tại hội thảo. Ảnh Đỗ Doãn

Với hai phiên thảo luận sôi nổi, sự kiện còn thu hút sự quan tâm của các khách mời theo dõi trực tuyến thông qua báo điện tử VnExpress. Phiên thảo luận 1 với chủ đề “Già hóa dân số: Cơ hội hay thách thức?” đã mang đến cho khách mời theo dõi cái nhìn tổng quan về thực trạng già hóa dân số nhanh chóng tại Việt Nam. Trình bày ý kiến trong phiên thảo luận này, TS. Bùi Sỹ Lợi - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, đã nhận định để biến thách thức thành cơ hội, Việt Nam cần tận dụng nguồn lao động bằng cách tiếp tục thực hiện lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu để tận dụng nguồn nhân lực.

Trong phiên thảo luận 2, với chủ đề “Già, rồi sao?” đề cập trực tiếp đến thế hệ Millennials – những người sẽ trực tiếp đối diện, chịu ảnh hưởng từ quá trình già hóa dân số nhanh chóng. Phiên thảo luận với góc nhìn đa chiều từ chính những bạn trẻ thuộc nhóm đối tượng này, xoay quanh các chủ đề tài chính, sức khỏe, sự gắn kết với gia đình và xã hội, cùng những mong đợi tuổi về già. Thông qua phiên thảo luận, người xem có thể tìm ra câu trả lời cho riêng mình để có được tuổi già độc lập, an nhiên.

Trước đó, vào đầu tháng 11/2022, Prudential cũng đã chính thức ra mắt trang “Tự do tuổi 50” với nội dung thông tin được xây dựng dựa trên những báo cáo, nghiên cứu được hãng phối hợp thực hiện cùng ILSSA và ISMS, kỳ vọng sẽ trở thành thư viện thông tin hữu ích cho cộng đồng, giúp mỗi người tìm ra giải pháp hướng đến cuộc sống độc lập khi về già, bắt đầu từ việc chuẩn bị tốt các khía cạnh tài chính, sức khỏe, tinh thần và các mối quan hệ gia đình – xã hội.

Cũng trong trang thông tin này, Prudential đã phát triển công cụ “Tính toán tài chính” để từ đó mọi người có thể xây dựng kế hoạch dự phòng tài chính cho tương lai tuổi già an nhàn, tự chủ.

Aging Summit 2022 là tiền đề để giúp mọi người hiểu rõ hơn và có sự chuẩn bị sẵn sàng cho một tương lai tự do ở tất cả các khía cạnh. Đại diện Prudential cho biết, trong những năm tới, DN sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong những hoạt động truyền thông gia tăng nhận thức về già hóa dân số, cùng đồng hành vì cộng đồng già hóa chủ động.
Đỗ Doãn

Đọc thêm

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

(TBTCO) - PGBank lãi trước thuế 439,8 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 65,8% so với cùng kỳ nhờ đà tăng các nguồn thu ngoài lãi và chi phí dự phòng giảm; dư nợ cho vay khách hàng tăng 4,3%, lên 48.349 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đã hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 7.327 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh 43 USD/ounce lên 4.123,3 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1,4 triệu đồng/lượng.
Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

(TBTCO) - Trong bối cảnh "độ chênh" khoảng 2 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn duy trì, nhiều ngân hàng đẩy mạnh mở rộng các kênh huy động ngoài tiền gửi truyền thống. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất trên các kênh huy động đồng loạt neo ở mức cao, khiến chi phí vốn gia tăng và dư địa giảm thêm lãi suất không dễ dàng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,500 140,500
Hà Nội - PNJ 135,500 140,500
Đà Nẵng - PNJ 135,500 140,500
Miền Tây - PNJ 135,500 140,500
Tây Nguyên - PNJ 135,500 140,500
Đông Nam Bộ - PNJ 135,500 140,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,550 14,050
Miếng SJC Nghệ An 13,550 14,050
Miếng SJC Thái Bình 13,550 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,550 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,550 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,550 14,050
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,240 13,940
Trang sức 99.99 13,250 13,950
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,355 14,052
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,355 14,053
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 140
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,401
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 132 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,365 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 1,405
Cập nhật: 25/07/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17870 18144 18723
CAD 18165 18441 19060
CHF 31577 31957 32601
CNY 0 3846 3939
EUR 29332 29552 30633
GBP 34260 34651 35592
HKD 0 3226 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14919 15510
SGD 19852 20134 20704
THB 697 760 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/07/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80