Cầu tín dụng có thể tăng, nhưng lãi suất khó giảm sâu

Thái Duy
(TBTCO) - Diễn biến tăng trưởng tín dụng hai tháng đầu năm là phù hợp nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế. Sắp tới, các động thái giảm lãi suất từ các ngân hàng thương mại kỳ vọng có thể phần nào thúc đẩy cầu tín dụng. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay khó có thể giảm sâu.
aa

Đây là nhận định về xu hướng lãi suất huy động và cho vay của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) trong báo cáo cập nhật về thị trường tiền tệ mới đây.

Thanh khoản “thừa nhiều hơn thiếu”

Báo cáo của VDSC cho biết, tính từ 1/2 - 24/2/2023, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã hút ròng khoảng hơn 189 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở. Đây là quy mô rút ròng lớn nhất theo tháng kể từ khi NHNN kích hoạt lại kênh bơm hoặc hút vốn trên thị trường mở từ tháng 6/2022. Lượng tiền hút ròng qua thị trường mở trong tháng qua cũng cao hơn nhiều so với lượng bơm ròng khoảng 122 nghìn tỷ đồng trong tháng đầu năm nay.

Diễn biến trên cho thấy thanh khoản hệ thống đang “thừa nhiều hơn thiếu”. Một phần nguyên nhân đến từ cầu tín dụng thấp và áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp chưa mạnh trong những tháng đầu năm.

Cũng tính đến ngày 24/2, số dư trên thị trường mở đối với tín phiếu NHNN là 160,6 nghìn tỷ đồng, gấp 6,4 lần so với cuối tháng 0/2023. Trong đó, khoảng 69 nghìn tỷ đồng (43% lượng tín phiếu đang lưu hành) có kỳ hạn 91 ngày, dự kiến đáo hạn từ 17 - 26/5/2023. Trái lại, số dư nghiệp vụ mua kỳ hạn là 31,7 nghìn tỷ đồng, giảm hơn 53 nghìn tỷ đồng so với cuối tháng 1/2023.

Cầu tín dụng có thể tăng, nhưng lãi suất khó giảm sâu

Theo các chuyên gia của VSDC, động thái hút ròng mạnh của NHNN trong tháng vừa qua có nguyên nhân đến từ sự sụt giảm của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.

Cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm đối với tiền đồng giảm chỉ còn 3,6%/năm vào giữa tháng, thấp nhất kể từ đầu năm và thấp hơn 76 điểm cơ bản so với lãi suất cho vay qua đêm đối với đồng USD. Tuy nhiên, gần về cuối tháng, lãi suất cho vay qua đêm đã hồi phục nhanh lên xấp xỉ 6,2%/năm, diễn biến phù hợp với việc điều hành cung tiền của NHNN. Tương tự, lãi suất đấu thầu ở nghiệp vụ phát hành tín phiếu trên thị trường mở cũng có nhịp giảm sâu về mức 3,8%/năm và phục hồi trở lại ở mức 6,0%/năm.

“Diễn biến trên cho thấy thanh khoản hệ thống đang “thừa nhiều hơn thiếu”, mà chúng tôi cho rằng một phần nguyên nhân đến từ cầu tín dụng thấp và áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp chưa mạnh trong những tháng đầu năm” – chuyên gia của VDSC nhấn mạnh.

Ngoài ra, các chuyên gia này cũng cho rằng, việc điều hành cung tiền của NHNN vẫn có sự nhất quán giống giai đoạn tháng 6 - 9/2022, kiểm soát vùng biến động lãi suất trên thị trường liên ngân hàng để phù hợp với mục tiêu ổn định lãi suất và tỷ giá.

Lãi suất huy động giảm trên diện rộng

Song song với diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng thì lãi suất trên thị trường 2 cũng có sự điều chỉnh giảm. Theo số liệu từ VSDC, từ sau Tết Nguyên đán, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân đã giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,2 - 0,5 điểm phần trăm. Hiện tại, mức lãi suất phổ biến đối với kỳ hạn 12 tháng là 8 - 9,5%/năm. Nổi bật hơn, vốn từng là một trong những ngân hàng huy động lãi suất cao nhất thị trường, SCB mới đây cũng đã giảm mạnh lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng từ mức 9,5%/năm chỉ còn 7,8%/năm.

Việc thanh khoản dư thừa trong hệ thống đã giúp đảo chiều cuộc đua lãi suất và xu hướng giảm lãi suất huy động diễn ra trên diện rộng - Điều này cũng phần nào giúp cho lãi suất cho vay hạ nhiệt.

Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (Big 4) có Vietcombank và Agribank cũng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi trực tuyến về bằng lãi suất tiền gửi tại quầy. Trong khi đó, BIDV đã giảm lãi suất huy động ở kỳ hạn dài sau 12 tháng xuống còn 7,8%/năm, từ mức 8,2%/năm.

Cầu tín dụng có thể tăng, nhưng lãi suất khó giảm sâu
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay dự báo khó giảm sâu. Ảnh: Minh họa.

Như vậy, việc thanh khoản dư thừa trong hệ thống đã giúp đảo chiều cuộc đua lãi suất và xu hướng giảm lãi suất huy động diễn ra trên diện rộng. Điều này cũng phần nào giúp cho lãi suất cho vay hạ nhiệt, theo khảo sát của một số ngân hàng, mức giảm đối với vay tiêu dùng và mua nhà đã giảm từ 0,2 - 0,3 điểm phần trăm so với đầu năm. Đồng thời, các ngân hàng từ khối nhà nước đến tư nhân cũng công bố các chương trình kích cầu tín dụng với lãi suất cho vay ưu đãi với cam kết điều chỉnh giảm từ 0,5 – 3,0 điểm phần trăm đối với từng đối tượng cho vay cụ thể.

Chuyên gia của VDSC cho rằng, diễn biến lãi suất trên thị trường vừa qua gắn với nhu cầu tín dụng còn thấp. Trong hai tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh ước tăng lần lượt 2,0% và 0,4% so với đầu năm, thấp hơn đáng kể so với mức tăng của cùng kỳ năm trước. Với quy mô tín dụng ở hai thành phố lớn này chiếm hơn 50% tổng quy mô tín dụng nền kinh tế, chuyên gia của VDSC ước tính tăng trưởng tín dụng tính đến cuối tháng 2/2023 đạt khoảng 1,1%, thấp hơn mức tăng 2,7% của cùng kỳ năm 2022.

“Chúng tôi cho rằng, diễn biến tăng trưởng tín dụng hai tháng đầu năm là phù hợp nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế. Sắp tới, các động thái giảm lãi suất từ các ngân hàng thương mại kỳ vọng có thể phần nào thúc đẩy cầu tín dụng, tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay khó có thể giảm sâu” – chuyên gia VSDC nhận định./.

Thái Duy

Đọc thêm

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 144,900
Hà Nội - PNJ 141,900 144,900
Đà Nẵng - PNJ 141,900 144,900
Miền Tây - PNJ 141,900 144,900
Tây Nguyên - PNJ 141,900 144,900
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 144,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 14,490
Miếng SJC Nghệ An 14,190 14,490
Miếng SJC Thái Bình 14,190 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 14,540
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,850 14,450
Trang sức 99.99 13,860 14,460
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 14,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 14,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cập nhật: 23/09/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Cập nhật: 23/09/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30