Chủ tịch VietinBank Lê Đức Thọ: Ngân hàng sát cánh cùng doanh nghiệp và người dân vượt qua đại dịch

Mai An (thực hiện)
(TBTCVN) - Trong bối cảnh khó khăn bởi đại dịch Covid-19, VietinBank cam kết sát cánh cùng người dân và doanh nghiệp, tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay thấp hơn từ 1,2% - 3%/năm so với thông thường.
aa

VietinBank cam kết đáp ứng kịp thời, đầy đủ tất cả các nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng

VietinBank cam kết đáp ứng kịp thời, đầy đủ tất cả các nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng chính đáng, cần thiết của doanh nghiệp và người dân.

Đó là khẳng định của ông Lê Đức Thọ - Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), trong cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên TBTCVN.

PV: Xin ông cho biết tình hình hoạt động của VietinBank qua 3 quý đầu năm 2020?

Ông Lê Đức Thọ

Ông Lê Đức Thọ

Ông Lê Đức Thọ: Trước hết có thể chia sẻ rằng, trong nhiều thập kỷ qua, chưa có năm nào tình hình kinh tế lại khó khăn như năm 2020 này. Đại dịch Covid-19 bùng phát đã tác động tiêu cực nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo đó, ngành Ngân hàng cũng chịu tác động lớn của dịch bệnh. Tuy vậy, trong bối cảnh khó khăn đó, điều rất đáng trân trọng khi toàn bộ hệ thống chính trị đã và đang cùng với người dân, cộng đồng doanh nghiệp nỗ lực vừa chống dịch hiệu quả, vừa thúc đẩy phục hồi phát triển kinh tế. Chính vì vậy kinh tế Việt Nam qua 9 tháng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng dương, các lĩnh vực của nền kinh tế đang hoạt động trong điều kiện bình thường mới.

Với VietinBank, là một ngân hàng thương mại nhà nước trụ cột, chủ lực, chúng tôi đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để tiếp tục thực hiện “mục tiêu kép”: Vừa đồng hành, chia sẻ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 khôi phục hoạt động sau dịch; vừa đẩy mạnh đổi mới, cải cách, tái cấu trúc hoạt động để phát triển bền vững, bảo đảm hiệu quả hoạt động kinh doanh và lợi ích của cổ đông.

Qua 9 tháng năm 2020, quy mô tài sản của ngân hàng tăng 1,65% so với thời điểm đầu năm, chủ yếu do tăng cho vay khách hàng, đồng thời, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có xu hướng giảm, do chiến lược quản lý dự trữ bắt buộc của VietinBank theo hướng tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo tuân thủ quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN.

9 tháng, lợi nhuận trước thuế 10,3 nghìn tỷ đồng

Báo cáo tài chính của VietinBank vừa công bố cho thấy, qua 9 tháng năm 2020, lợi nhuận trước thuế của VietinBank đạt hơn 10,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước; tổng dư nợ cho vay đạt hơn 958 nghìn tỷ đồng; quy mô tài sản đạt hơn 1.261 nghìn tỷ đồng.

Lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm 2020 tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chủ yếu tăng được từ nguồn thu ngoài lãi nhờ chiến lược kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán hợp lý, hiệu quả; đồng thời thu hồi từ nợ xử lý rủi ro tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước đã mang lại nguồn thu lớn so với cùng kỳ năm 2019. Bên cạnh đó, VietinBank cũng đã tiết giảm hiệu quả chi phí, đóng góp vào việc tăng trưởng lợi nhuận trong kỳ.

PV: Để vượt qua khó khăn thách thức từ đại dịch Covid-19, VietinBank đã có những giải pháp gì, thưa ông?

Ông Lê Đức Thọ: Thực tế cho thấy, dịch Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. VietinBank đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN và chủ động triển khai các giải pháp ứng phó với dịch Covid-19, thiết thực hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn.

Cụ thể, thời gian qua, VietinBank đã triển khai cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ (theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của NHNN), nhằm hỗ trợ khách hàng vay vốn gặp khó khăn do dịch Covid-19. Kết thúc quý III/2020, VietinBank đang thực hiện cơ cấu nợ giữ nguyên nhóm nợ cho 1.520 khách hàng với dư nợ của các khách hàng được cơ cấu nợ giữ nguyên nhóm nợ là 62.055 tỷ đồng.

Đối với giải ngân mới khách hàng chịu ảnh bởi dịch, tính từ thời điểm 23/1/2020 tới cuối quý III, VietinBank đã giải ngân cho 6.557 khách hàng bị ảnh hưởng với doanh số giải ngân là 276.591 tỷ đồng. Đặc biệt, VietinBank đã giảm lãi suất với 8.795 khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 với số tiền lãi thực đã là 1.687 tỷ đồng.

Cùng với đó, VietinBank cũng thực hiện miễn giảm phí cho doanh nghiệp và người dân: Mức phí giảm bình quân khoảng 20% đến 50%, cá biệt có một số loại phí có thể được giảm tới 100% so với trước đây để hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Mới đây nhất, VietinBank thực hiện miễn toàn bộ phí giao dịch ngân hàng điện tử VietinBank eFAST cho các doanh nghiệp đăng ký eFAST tài chính mới: chuyển khoản VND trong và ngoài hệ thống; chi lương; nộp ngân sách nhà nước; 2 thiết bị xác thực VietinBank OTP cùng hàng loạt các loại phí khác…

PV: Ông đánh giá thế nào về khả năng hoàn thành kế hoạch kinh doanh cả năm 2020 của VietinBank?

Ông Lê Đức Thọ: Với việc nỗ lực thực hiện các giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh từ đầu năm đến nay, cùng sự chủ động kiểm soát, tiết giảm chi phí, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng chi phí, quản lý chặt chẽ chất lượng tài sản, VietinBank dự kiến sẽ hoàn thành các mục tiêu kinh doanh năm 2020 đã được đại hội đồng cổ đông thông qua.

Hiện nay, các hoạt động giao thương trên thị trường đã có những tín hiệu tích cực trở lại sau khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, các đường bay quốc tế dần mở cửa trở lại tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư triển khai hoạt động hợp tác sản xuất, kinh doanh, du lịch… Do vậy, các tháng cuối năm được đánh giá là thời điểm các doanh nghiệp tập trung nguồn lực để thúc đẩy hoạt động kinh doanh và VietinBank sẽ tiếp tục đa dạng hóa cơ cấu danh mục tín dụng, ưu tiên tập trung vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhất là những lĩnh vực Chính phủ khuyến khích. VietinBank sẽ tiếp tục nỗ lực tối đa để nâng cao năng lực tài chính, từ đó phát triển mạnh mẽ, phục vụ tốt nhất cho sự phát triển của nền kinh tế.

Tôi cũng xin nhấn mạnh rằng, VietinBank luôn cam kết sát cánh cùng người dân và doanh nghiệp, tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng đồng hành cùng khách hàng doanh nghiệp với lãi suất cho vay thấp hơn từ 1,2%-3%/năm so với thông thường. Ngân hàng cũng kịp thời thực hiện hạ lãi suất cho vay; giảm lãi, giảm và miễn phí; cơ cấu lại thời hạn trả nợ; giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01 và văn bản hướng dẫn của NHNN. VietinBank cũng khẳng định và cam kết đáp ứng kịp thời, đầy đủ tất cả các nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng chính đáng, cần thiết của doanh nghiệp và người dân.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tiên phong chung tay chia sẻ trách nhiệm xã hội cộng đồng

Luôn là đơn vị tiên phong trong các hoạt động chung tay chia sẻ trách nhiệm xã hội cộng đồng, VietinBank vừa qua đã ủng hộ 10 tỷ đồng để mua sắm vật dụng, thiết bị y tế cho Bộ Y tế trong công tác phòng chống dịch Covid-19; tài trợ 5 máy thở đặc biệt cho Bệnh viện Bạch Mai; đóng góp 8 tỷ đồng về Công đoàn Ngân hàng Việt Nam… triển khai “Ngân hàng gạo nghĩa tình” trên toàn quốc với mức kinh phí hỗ trợ gần 2 tỷ đồng với 26.000 suất gạo trao tận tay người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19. VietinBank cũng đã trao tặng 15 tỷ đồng ủng hộ Đà Nẵng, Quảng Nam và Hải Dương để phòng, chống dịch Covid-19. Trong hoàn cảnh mưa lũ lịch sử đã và đang gây thiệt hại nặng nề tại các tỉnh miền Trung, VietinBank đã khẩn trương, chủ động hỗ trợ khẩn cấp 5 tỉnh miền Trung: Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam và Hà Tĩnh số tiền hơn 15 tỷ đồng.

Mai An (thực hiện)

Mai An (thực hiện)

Đọc thêm

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,730 ▼150K 15,030 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,730 ▼170K 15,030 ▼120K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,730 ▼170K 15,030 ▼120K
Nguyên Liệu 99.99 13,850 ▼300K 14,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 13,800 ▼300K 14,000 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,550 ▼100K 14,950 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,500 ▼100K 14,900 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,430 ▼100K 14,880 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 ▼50K 15,130
NL 99.90 13,750 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800 ▼100K
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17905 18179 18758
CAD 18105 18380 18999
CHF 32096 32478 33127
CNY 0 3847 3940
EUR 29536 29757 30838
GBP 34007 34397 35346
HKD 0 3228 3430
JPY 156 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14847 15434
SGD 19847 20129 20710
THB 718 781 834
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26149 26149 26431
AUD 18119 18219 19142
CAD 18284 18384 19398
CHF 32386 32416 34006
CNY 3828.3 3853.3 3988.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29767 29797 31520
GBP 34362 34412 36165
HKD 0 3355 0
JPY 160.19 160.69 171.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20022 20152 20880
THB 0 748.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15150000
SBJ 13500000 13500000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,431
USD20 26,144 26,194 26,431
USD1 26,144 26,194 26,431
AUD 18,201 18,301 19,409
EUR 29,987 29,987 31,394
CAD 18,252 18,352 19,658
SGD 20,127 20,277 20,840
JPY 160.82 162.32 166.88
GBP 34,371 34,721 35,600
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80