Công bố báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2023 và triển vọng 2024”

Chí Tín
(TBTCO) - Sáng ngày 16/4/2024, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) đồng tổ chức Hội thảo tham vấn ý kiến đối với báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2023 và triển vọng 2024” .
aa

Báo cáo là sản phẩm phối hợp của ba cơ quan nhằm đánh giá toàn cảnh về thị trường tài chính Việt Nam, bao hàm đầy đủ các lĩnh vực ngân hàng - chứng khoán - bảo hiểm và quỹ đầu tư.

Công bố báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2023 và triển vọng 2024”
Hội thảo diễn ra tại Hà Nội. Ảnh: C.T
Kinh tế Việt Nam có nhiều điểm sáng, cơ hội cho các nhà đầu tư Chính sách tài khóa được thực hiện linh hoạt đã hỗ trợ tích cực cho sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam

Theo nội dung báo cáo, thị trường tài chính Việt Nam năm 2023 phục hồi với các điểm sáng - tối đan xen, nhưng điểm sáng chi phối. Một số kết quả nổi bật đáng ghi nhận là: Tín dụng tăng chậm trong 3 quý đầu năm, nhưng phục hồi mạnh trong quý IV/2023 (cả năm tăng 13,78%, thấp hơn mục tiêu 14,5% nhưng là mức cao so với khu vực và phù hợp với nhu cầu và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế). Thanh khoản hệ thống ngân hàng dồi dào.

Lãi suất giảm, khiến chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì ở mức cao, tạo áp lực lên tỷ giá. Mặc dù vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ được biến động tỷ giá trong tầm kiểm soát (tăng 2,6%), qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính - tiền tệ.

Kết quả hoạt động của các định chế tài chính phân hóa với lợi nhuận trước thuế của các tổ chức tín dụng tăng 7,3%, của các công ty chứng khoán tăng trên 45%, trong khi doanh thu phí bảo hiểm giảm gần 9% (nhưng lợi nhuận của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng mạnh 30-60%, chủ yếu là do lợi nhuận từ đầu tư tài chính và tiết giảm chi phí).

Công bố báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2023 và triển vọng 2024”
Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu: Ảnh: C.T

Năm 2024, kinh tế thế giới dự báo đi ngang hoặc tăng trưởng chậm lại (2,4% so với mức tăng 2,6% năm 2023) dù thương mại và đầu tư dần phục hồi, lạm phát toàn cầu tiếp tục giảm (3,5-4% từ mức 5,7% năm 2023). Đối với Việt Nam, nhóm nghiên cứu dự báo tăng trưởng GDP năm 2024 có thể đạt 6-6,5% (kịch bản cơ sở) với các động lực tăng trưởng phục hồi tốt hơn năm 2023, lạm phát tăng khoảng 3,4-3,8%, trong mục tiêu là 4-4,5%.

Cùng với khu vực kinh tế thực, khu vực tài chính của Việt Nam năm 2024 được dự báo sẽ tích cực hơn. Chính sách tiền tệ được dự báo theo hướng chủ động, linh hoạt, lãi suất duy trì ở mức thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Tỷ giá mặc dù còn chịu áp lực lớn trước khi FED quyết định giảm lãi suất nhưng sẽ hạ nhiệt dần từ cuối quý II/2024, với mức tăng khoảng 2,5-3% trong năm 2024.

Một vài nét khái quát về bức tranh kinh tế 2024

Cơ cấu cung ứng vốn của nền kinh tế trong năm 2024 và các năm tiếp theo được kỳ vọng chuyển dịch theo hướng tích cực hơn khi giảm dần tỷ trọng của kênh tín dụng, tăng tỷ trọng qua kênh thị trường vốn và đầu tư tư nhân. Thanh khoản thị trường được kỳ vọng có sự cải thiện tích cực. Tăng trưởng lợi nhuận của các định chế tài chính năm 2024 được dự báo sẽ ở mức cao hơn năm 2023.

Mặc dù vậy, thị trường tài chính trong năm 2024 vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm như: Nợ xấu còn gia tăng trong nửa đầu năm nhưng sẽ giảm dần cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, nhu cầu và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu nhưng tín dụng đang phục hồi và cả năm có thể tăng 14-15%, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản phục hồi chậm và cần thời gian để chuyển biến rõ nét hơn.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB sắp triển khai phương án tăng vốn điều lệ, thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức và chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, dự kiến huy động khoảng 8.055 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất các phương án tăng vốn này, vốn điều lệ của ngân hàng dự kiến tăng lên tối đa 100.687 tỷ đồng.
BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

(TBTCO) - BVBank chuẩn bị triển khai phương án tăng vốn điều lệ năm 2026. Theo phương án trước đó, nếu hoàn tất hai đợt phát hành cho cổ đông hiện hữu và ESOP, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ tăng 55% lên 9.912 tỷ đồng. BVBank cũng đang hoàn tất các thủ tục để chuyển niêm yết cổ phiếu từ UPCoM sang HOSE.
Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, ngân hàng sẽ đối mặt với ba rủi ro lớn, khó đáp ứng chuẩn an toàn Basel III. Trong bối cảnh này, lãi suất cần được điều hành ổn định có chọn lọc, hài hòa nhiều mục tiêu, thay vì duy trì "rẻ đại trà”.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,750 ▼50K 15,050 ▼50K
Kim TT/AVPL 14,750 ▼50K 15,050 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,750 ▼50K 15,050 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 13,500 ▼60K 13,700 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,450 ▼60K 13,650 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▼160K 14,400 ▼160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▼160K 14,350 ▼160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▼160K 14,330 ▼160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,000 ▼1000K 150,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 147,000 ▼1000K 150,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 147,000 ▼1000K 150,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 147,000 ▼1000K 150,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 147,000 ▼1000K 150,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,000 ▼1000K 150,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,750 ▼50K 15,050 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,750 ▼50K 15,050 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,750 ▼50K 15,050 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,650 15,000
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,190 14,890
Trang sức 99.99 14,200 14,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,475 ▲1327K 15,052 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,475 ▲1327K 15,053 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,474 ▼5K 1,504 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,474 ▼5K 1,505 ▲1354K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,449 ▼10K 1,484 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,931 ▼990K 146,931 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,961 ▼750K 111,461 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,572 ▼680K 101,072 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,183 ▼610K 90,683 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,176 ▼583K 86,676 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,539 ▼417K 62,039 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,475 ▲1327K 1,505 ▲1354K
Cập nhật: 07/07/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17729 18002 18577
CAD 17967 18242 18856
CHF 31995 32377 33010
CNY 0 3830 3922
EUR 29444 29665 30741
GBP 34412 34803 35733
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14673 15257
SGD 19814 20095 20662
THB 705 768 821
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,584 29,608 30,994
JPY 157.84 158.12 167.55
GBP 34,594 34,688 35,857
AUD 17,947 18,012 18,675
CAD 18,166 18,224 18,877
CHF 32,256 32,356 33,274
SGD 19,940 20,002 20,771
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.86 16.54 17.98
THB 752.91 762.21 815.12
NZD 14,666 14,802 15,230
SEK - 2,685 2,778
DKK - 3,958 4,094
NOK - 2,641 2,732
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,022.2 - 6,796.05
TWD 741.02 - 896.93
SAR - 6,886.53 7,248.08
KWD - 83,227 88,478
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,517 29,636 30,829
GBP 34,581 34,720 35,750
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,078 32,207 33,142
JPY 158.10 158.73 166.65
AUD 17,924 17,996 18,591
SGD 19,998 20,078 20,667
THB 769 772 809
CAD 18,167 18,240 18,810
NZD 14,740 15,279
KRW 16.48 18.20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26462
AUD 17932 18032 18954
CAD 18152 18252 19266
CHF 32243 32273 33847
CNY 3808.9 3833.9 3969.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29631 29661 31386
GBP 34706 34756 36514
HKD 0 3355 0
JPY 158.67 159.17 169.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14787 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19969 20099 20825
THB 0 734.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14700000 14700000 15200000
SBJ 13000000 13000000 15200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,129 26,179 26,462
USD20 26,129 26,179 26,462
USD1 23,942 26,179 26,462
AUD 17,973 18,073 19,177
EUR 29,783 29,783 31,192
CAD 18,097 18,197 19,504
SGD 20,055 20,205 20,759
JPY 159.2 160.7 165.23
GBP 34,609 34,959 35,824
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80