Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt

Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ một số quy định xử phạt không còn phù hợp; bổ sung chế tài đối với nhiều hành vi như: chậm trả tiền bảo hiểm, vi phạm thời hạn bồi thường, cung cấp bảo hiểm trực tuyến... Đồng thời, dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa 5 điều kiện kinh doanh và một thủ tục hành chính với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
aa

Nghị định số 78/2026/NĐ-CP phân định rõ thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Phía sau 92.000 tỷ đồng chi trả là niềm tin và “điểm tựa” của bảo hiểm

Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khó đáp ứng điều kiện cơ cấu cổ đông

Đề xuất bãi bỏ loạt quy định, cắt giảm thêm điều kiện kinh doanh bảo hiểm

Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 78/2026/NĐ-CP ngày 17/3/2026 và Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/7/2023 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 97/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026.

Dự thảo Nghị định gồm 3 chương, 24 điều, dự kiến được trình Chính phủ trong tháng 12/2026.

Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt
Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Ảnh minh họa.

Việc sửa đổi, bổ sung nhằm kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, giữ vững kỷ cương và sự bền vững của thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, khách hàng, sự an toàn của cả hệ thống, tiết giảm chi phí xã hội.

Cùng với đó, cắt giảm điều kiện kinh doanh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, kế thừa, tiếp tục phát triển và hoàn thiện những quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm còn phù hợp với thực tế và đã có tác động tích cực đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm, đồng thời chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung những quy định đã phát sinh hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đáp ứng yêu cầu quản lý đối với thị trường bảo hiểm.

Cụ thể, tại dự thảo Nghị định, Bộ Tài chính đề xuất bỏ quy định xử phạt doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ triển khai sản phẩm bảo hiểm vật chất xe cơ giới không tuân thủ phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm xe cơ giới đã được Bộ Tài chính chấp thuận.

Bên cạnh đó, bỏ quy định xử phạt việc doanh nghiệp phi nhân thọ không đăng ký với Bộ Tài chính các nguyên tắc tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm, không thực hiện đúng nguyên tắc tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm đã được Bộ Tài chính chấp thuận.

Bên cạnh đó, bỏ quy định xử phạt về “dịch vụ phụ trợ bảo hiểm”. Việc điều chỉnh nhằm bảo đảm phù hợp với Luật số 139/2025/QH15, Nghị định số 97/2026/NĐ-CP và Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, trong đó dịch vụ phụ trợ bảo hiểm đã được đưa ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Bãi bỏ cụm từ “chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm” do Luật số 139/2025/QH15 đã bỏ quy định về điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.

Đáng chú ý, dự thảo Nghị định cũng hướng tới tháo gỡ những vướng mắc về điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm theo quy định tại Nghị định số 46/2023/NĐ-CP.

Cụ thể, dự thảo đề xuất bãi bỏ một số quy định như: khoản 1 và 5 Điều 63, khoản 2, điểm b và đ khoản 5, điểm b khoản 6, điểm b khoản 10 Điều 64; điểm c và d khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 74; đồng thời bỏ yêu cầu “; tối thiểu 03 năm đối với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên” tại khoản 3 Điều 77.

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, dự thảo không làm phát sinh thủ tục hành chính mới tại Nghị định số 46/2023/NĐ-CP và dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa được 5 điều kiện kinh doanh và đơn giản hóa 01 thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.

Bổ sung chế tài đối với nhiều hành vi vi phạm

Cùng với việc loại bỏ các quy định xử phạt không còn phù hợp, dự thảo bổ sung chế tài đối với nhiều hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Dự thảo Nghị định bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi không tuân thủ thời hạn chấp thuận hoặc từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật. Đồng thời, bổ sung quy định xử phạt hành vi chậm trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Theo đó, dự thảo bổ sung quy định xử phạt đối với việc doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ triển khai sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới mà không thông báo phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm bằng văn bản cho Bộ Tài chính; không thực hiện đúng phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm xe cơ giới đã thông báo cho Bộ Tài chính.

Bên cạnh đó, bổ sung quy định xử phạt khi doanh nghiệp không thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính nguyên tắc tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm trước khi áp dụng; không thực hiện đúng nguyên tắc tách nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo hiểm đã thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính.

Bổ sung quy định xử phạt về mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm theo quy định tại Nghị định số 105/2025/NĐ-CP.

Một trong những nội dung đáng chú ý tại dự thảo Nghị định là đề xuất bổ sung quy định xử phạt đối với các hành vi liên quan đến giải quyết quyền lợi bảo hiểm.

Các đề xuất này hướng tới hoàn thiện cơ sở pháp lý để xử lý những vi phạm liên quan trực tiếp đến quá trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm của khách hàng, đặc biệt là việc tuân thủ thời hạn bồi thường, trả tiền bảo hiểm.

Ngoài ra, dự thảo Nghị định cũng bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm không đáp ứng quy định về cơ cấu cổ đông; doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không tuân thủ quy định pháp luật về đầu tư; doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm vi phạm quy định về hoa hồng môi giới bảo hiểm.

Bộ Tài chính cũng đề xuất bổ sung quy định xử phạt hành vi cung cấp bảo hiểm trên môi trường mạng không đúng quy định pháp luật…

Các quy định xử phạt liên quan đến mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP cũng được đề xuất bổ sung./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

(TBTCO) - Sau cuộc đua lãi suất, tiền gửi tại 28 ngân hàng niêm yết tăng tốc qua từng quý, đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 10,56%, dần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Khi lãi suất huy động buộc phải hạ nhiệt, việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn giúp "giữ chân" dòng tiền.
Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước sắp triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ USD - VND kỳ hạn 182 ngày, quy mô tối đa 2 tỷ USD, có thể cung ứng gần 48.800 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng. Đây là kỳ hạn dài nhất từ trước đến nay của nghiệp vụ này, nhằm bổ sung nguồn vốn VND, hỗ trợ thanh khoản và giảm áp lực lãi suất.
Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,600 140,600
Hà Nội - PNJ 136,600 140,600
Đà Nẵng - PNJ 136,600 140,600
Miền Tây - PNJ 136,600 140,600
Tây Nguyên - PNJ 136,600 140,600
Đông Nam Bộ - PNJ 136,600 140,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 14,240
Miếng SJC Nghệ An 13,940 14,240
Miếng SJC Thái Bình 13,940 14,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,680 14,080
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,680 14,080
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,680 14,080
Trang sức 99.9 13,360 13,960
Trang sức 99.99 13,370 13,970
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 14,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 14,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 1,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 138,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 104,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 95,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 85,254
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 81,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 58,327
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cập nhật: 05/11/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17491 17764 18340
CAD 17883 18157 18776
CHF 30801 31178 31825
CNY 0 3809 3906
EUR 28289 28505 29585
GBP 33850 34240 35175
HKD 0 3146 3348
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14161 14753
SGD 19571 19852 20422
THB 679 742 796
USD (1,2) 25447 0 0
USD (5,10,20) 25484 0 0
USD (50,100) 25511 25525 25895
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,550 25,550 25,930
USD(1-2-5) 24,528 - -
USD(10-20) 24,528 - -
EUR 28,331 28,354 29,704
JPY 158.27 158.56 168.19
GBP 34,022 34,114 35,300
AUD 17,648 17,712 18,386
CAD 18,079 18,137 18,810
CHF 31,091 31,188 32,119
SGD 19,701 19,762 20,540
CNY - 3,780 3,926
HKD 3,214 3,224 3,360
KRW 17.68 18.44 20.06
THB 728.59 737.59 789.86
NZD 14,116 14,247 14,675
SEK - 2,593 2,686
DKK - 3,801 3,936
NOK - 2,732 2,830
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,912.26 - 6,675.92
TWD 708.02 - 857.89
SAR - 6,739.23 7,100.3
KWD - 81,354 86,581
AED - 6,753 7,278
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25530 25530 25890
AUD 17683 17783 18708
CAD 18079 18179 19191
CHF 31092 31122 32703
CNY 3792.4 3817.4 3952.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28502 28532 30257
GBP 34188 34238 35996
HKD 0 3300 0
JPY 158.83 159.33 169.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14293 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19741 19871 20592
THB 0 709 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12000000 12000000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,445 25,565 25,900
USD20 25,415 25,565 25,900
USD1 25,395 25,565 25,900
AUD 17,558 17,708 18,875
EUR 28,256 28,356 30,014
CAD 18,020 18,120 19,428
SGD 19,813 19,963 20,517
JPY 159.73 161.23 166.8
GBP 34,034 34,184 35,496
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,773 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/11/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30