Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều doanh nghiệp tất bật hoàn thành các dự án cũng như mục tiêu kinh doanh đề ra vào giai đoạn cuối năm. Với những tín hiệu tích cực hiện tại và mức tăng trưởng tín dụng hiện chỉ còn cách vạch đích 2,5%, các chuyên gia cho rằng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm nay sớm đạt được.
aa
Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích
Để tăng tốc huy động vốn, ngân hàng ưu đãi lãi suất cao hơn với khách hàng gửi lượng tiền lớn. Ảnh tư liệu

Tất bật những ngày cuối năm hoàn thiện nhà máy mới xây tại Bắc Ninh, trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng cho biết, đến lúc công ty phải thay đổi và cần nhà máy mới đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu năm tới cũng như đáp ứng yêu cầu khắt khe từ tập khách hàng là doanh

nghiệp FDI. Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật tư bao bì trong lĩnh vực công nghiệp, công ty ngày càng phải đáp ứng các yêu cầu cao về tiêu chuẩn chất lượng và năng lực cung ứng cho các nhà máy nước ngoài.

Ông Hoàn cho biết, công ty vay vốn lưu động với lãi suất chỉ 6,2%/năm từ Vietcombank, với thời gian cho vay ngắn 6 tháng, thủ tục đơn giản, dù vất vả xoay vòng nhưng lãi suất vay khá thấp. Lạc quan về những tín hiệu tích cực về bối cảnh sản xuất kinh doanh năm tới song theo lãnh đạo Công ty Thái Hưng, tuỳ loại hình doanh nghiệp và phải từ chính nội lực, mỗi doanh nghiệp lựa chọn có chủ động nắm bắt cơ hội năm tới và sẵn sàng đương đầu khó khăn, thách thức hay không.

Nhu cầu vốn cải thiện rõ nét cuối năm

Nền kinh tế càng về cuối năm càng có thêm thuận lợi, các doanh nghiệp và hệ thống tổ chức tín dụng đều nhìn thấy dấu hiệu phục hồi và phát triển trở lại, đây là một dấu hiệu đáng mừng. Không chỉ Công ty Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng mà nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đang rộn ràng chuẩn bị cho mùa vụ kinh doanh cuối năm và chuẩn bị kế hoạch sản xuất kinh doanh năm tới nên nhu cầu vốn rất cao.

Theo PGS. TS Đinh Trọng Thịnh - chuyên gia kinh tế, các hoạt động kinh tế phục hồi mạnh mẽ từ mức đáy của đại dịch và tăng trưởng GDP của Việt Nam tốt qua các quý. Theo đó, quý I tăng 5,66%, quý II tăng 6,93%, quý III tăng 7,4% - đây là tốc độ tăng trưởng cao nhất kể từ quý III/2022, khi các hoạt động kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ từ mức đáy của đại dịch, tính chung 9 tháng tăng 6,84%. Giai đoạn cuối năm, đà tăng trưởng GDP được đánh giá tốt hơn và các doanh nghiệp tự tin đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn gia tăng cuối năm, bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ Tài chính, Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn FiinGroup nhìn nhận, thanh khoản ngân hàng cuối năm có dấu hiệu căng thẳng nhất thời khi nhìn vào lãi suất liên ngân hàng tăng cao. Lãi suất qua đêm bằng VND đạt 6,08% vào tháng 11, tăng từ 4,07% trong tháng 9.

Nguyên nhân chính là do tình hình rút vốn từ doanh nghiệp. Cuối năm cũng là thời điểm mà nhiều doanh nghiệp, tổ chức thực hiện rút vốn để phục vụ cho các dự án và hoàn thành mục tiêu kinh doanh, điều này gián tiếp gây áp lực lên thanh khoản của các ngân hàng.

Cùng với đó, Kho bạc Nhà nước rút hơn 4,5 tỷ USD từ các ngân hàng lớn để giải ngân đầu tư công. Trong quý III/2024, Kho bạc Nhà nước rút một lượng lớn tiền gửi khỏi các ngân hàng quốc doanh như Vietcombank, Vietinbank, BIDV và Agribank để giải ngân đầu tư công, dẫn đến việc giảm khoảng 40% tổng số tiền gửi tại các ngân hàng này so với quý trước. Đồng thời, lượng tiền gửi của các doanh nghiệp tư nhân cũng giảm khoảng 16,6% từ giai đoạn 6 - 9 tháng đầu năm 2024

“Tình hình này buộc nhiều ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút vốn mới, đảm bảo thanh khoản. Các ngân hàng nhỏ và vừa đặc biệt chịu áp lực, phải nâng cao chi phí huy động vốn và gia tăng vay liên ngân hàng ngắn hạn để duy trì hoạt động” - bà Oanh nhìn nhận.

Nhích tăng lãi suất kéo dòng tiền đổ vào ngân hàng

Theo chuyên gia từ FiinGroup, lãi suất huy động cao thúc đẩy tiền gửi tiết kiệm trở thành kênh đầu tư hấp dẫn, giúp dòng tiền đổ vào hệ thống ngân hàng tăng kỷ lục từ đầu năm đến nay. Nhờ đó, thanh khoản được đảm bảo trong ngắn hạn và vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Việc quản lý rủi ro thanh khoản và chiến lược huy động linh hoạt sẽ là yếu tố then chốt giúp hệ thống ngân hàng duy trì sự ổn định trong thời gian tới.

Tín dụng thường bứt tốc cuối năm

Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích

Cuối năm nào cũng vậy, doanh nghiệp thường dùng nhiều vốn trước Tết Âm lịch để trả lương, thưởng và phục vụ sản xuất kinh doanh. Nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh cấp tập cuối năm nên nhu cầu về vốn tăng vọt. Có những năm, quý cuối năm tăng trưởng tín dụng tương đương 1/3 cả năm do nhu cầu thị trường. Nhiều ngân hàng lường trước nhu cầu giải ngân tuần sau thì tuần này sẽ đẩy lãi suất huy động lên một chút để đảm bảo và cân đối thanh khoản, dòng tiền. Luật sư Trương Thanh Đức

Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI cũng cho rằng, việc lãi suất huy động biến động là điều dễ hiểu vì phụ thuộc cung cầu. Với những ngân hàng thừa vốn thì dư dả giải ngân mà không cần phải tăng lãi suất huy động để hút vốn, còn nhiều ngân hàng cần vài nghìn tỷ đồng để cho vay thì phải tăng lãi suất huy động để hút tiền kịp thời. "Điều này hoàn toàn đúng luật chơi, hoàn toàn hợp lý và do cung cầu thị trường quyết định" - ông Đức nhấn mạnh.

Hơn nữa, để tăng tốc huy động vốn, ngân hàng ưu đãi lãi suất cao hơn với khách hàng gửi lượng tiền lớn. "Thay vì phục vụ 1.000 khách hàng phải lập 1.000 sổ, quản lý 1.000 số dư, thay vào đó, huy động được một khách hàng với lượng tiền cao hơn, ngân hàng sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí và dòng tiền, nguồn vốn ổn định hơn, thời hạn kéo dài" - ông Đức dẫn chứng.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất duy trì xu hướng giảm hơn một năm qua. Do đó, khi tín dụng tăng tốc vào cuối năm, việc các ngân hàng phải tăng lãi suất tiết kiệm để thu hút vốn là điều dễ hiểu và điều này có thể kéo theo lãi suất cho vay tăng nhẹ là điều không khó để lý giải.

Trả lời báo giới vừa qua, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, mặc dù thời điểm đầu năm còn nhiều khó khăn tổng quan về mức độ tăng trưởng tín dụng ghi nhận những kết quả tích cực, hài hòa với nhịp độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Nới van tín dụng giúp doanh nghiệp tăng tốc cuối năm

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến 29/11, tổng dư nợ nền kinh tế đạt khoảng 15,3 triệu tỷ đồng, tăng 11,9%; đến ngày 7/12/2024 mức tăng trưởng tín dụng đạt 12,5% và cao hơn mức 9% của cùng kỳ năm 2023. Huy động vốn đạt khoảng 14,8 triệu tỷ đồng và tốc độ tăng của dư nợ đang cao hơn huy động vốn. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về tăng trưởng tín dụng năm 2024, NHNN định hướng mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% và có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Đến ngày 28/8/2024, nhiều ngân hàng cho vay trên 80% chỉ tiêu tín dụng được cấp từ đầu năm được NHNN cấp thêm hạn mức. Mới đây, ngày 28/11/2024, NHNN phát đi thông báo điều chỉnh tăng thêm room tín dụng năm 2024 đối với các tổ chức tín dụng theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch.

NHNN cũng ban hành nhiều văn bản, tổ chức các hội nghị chuyên đề liên quan để quyết liệt chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện tăng trưởng tín dụng hiệu quả, đúng, trúng mục tiêu, tăng cường rà soát, đơn giản hóa quy trình và các thủ tục cấp tín dụng, tối ưu hóa áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh dự báo, với đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của năm 2025, thị trường bất động sản vẫn còn trì trệ cùng khả năng tăng trưởng chưa thực sự rõ nét của thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu, tín dụng có thể tăng trưởng ở mức 13 - 17%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80