Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều doanh nghiệp tất bật hoàn thành các dự án cũng như mục tiêu kinh doanh đề ra vào giai đoạn cuối năm. Với những tín hiệu tích cực hiện tại và mức tăng trưởng tín dụng hiện chỉ còn cách vạch đích 2,5%, các chuyên gia cho rằng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm nay sớm đạt được.
aa
Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích
Để tăng tốc huy động vốn, ngân hàng ưu đãi lãi suất cao hơn với khách hàng gửi lượng tiền lớn. Ảnh tư liệu

Tất bật những ngày cuối năm hoàn thiện nhà máy mới xây tại Bắc Ninh, trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng cho biết, đến lúc công ty phải thay đổi và cần nhà máy mới đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu năm tới cũng như đáp ứng yêu cầu khắt khe từ tập khách hàng là doanh

nghiệp FDI. Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật tư bao bì trong lĩnh vực công nghiệp, công ty ngày càng phải đáp ứng các yêu cầu cao về tiêu chuẩn chất lượng và năng lực cung ứng cho các nhà máy nước ngoài.

Ông Hoàn cho biết, công ty vay vốn lưu động với lãi suất chỉ 6,2%/năm từ Vietcombank, với thời gian cho vay ngắn 6 tháng, thủ tục đơn giản, dù vất vả xoay vòng nhưng lãi suất vay khá thấp. Lạc quan về những tín hiệu tích cực về bối cảnh sản xuất kinh doanh năm tới song theo lãnh đạo Công ty Thái Hưng, tuỳ loại hình doanh nghiệp và phải từ chính nội lực, mỗi doanh nghiệp lựa chọn có chủ động nắm bắt cơ hội năm tới và sẵn sàng đương đầu khó khăn, thách thức hay không.

Nhu cầu vốn cải thiện rõ nét cuối năm

Nền kinh tế càng về cuối năm càng có thêm thuận lợi, các doanh nghiệp và hệ thống tổ chức tín dụng đều nhìn thấy dấu hiệu phục hồi và phát triển trở lại, đây là một dấu hiệu đáng mừng. Không chỉ Công ty Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng mà nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đang rộn ràng chuẩn bị cho mùa vụ kinh doanh cuối năm và chuẩn bị kế hoạch sản xuất kinh doanh năm tới nên nhu cầu vốn rất cao.

Theo PGS. TS Đinh Trọng Thịnh - chuyên gia kinh tế, các hoạt động kinh tế phục hồi mạnh mẽ từ mức đáy của đại dịch và tăng trưởng GDP của Việt Nam tốt qua các quý. Theo đó, quý I tăng 5,66%, quý II tăng 6,93%, quý III tăng 7,4% - đây là tốc độ tăng trưởng cao nhất kể từ quý III/2022, khi các hoạt động kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ từ mức đáy của đại dịch, tính chung 9 tháng tăng 6,84%. Giai đoạn cuối năm, đà tăng trưởng GDP được đánh giá tốt hơn và các doanh nghiệp tự tin đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn gia tăng cuối năm, bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ Tài chính, Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn FiinGroup nhìn nhận, thanh khoản ngân hàng cuối năm có dấu hiệu căng thẳng nhất thời khi nhìn vào lãi suất liên ngân hàng tăng cao. Lãi suất qua đêm bằng VND đạt 6,08% vào tháng 11, tăng từ 4,07% trong tháng 9.

Nguyên nhân chính là do tình hình rút vốn từ doanh nghiệp. Cuối năm cũng là thời điểm mà nhiều doanh nghiệp, tổ chức thực hiện rút vốn để phục vụ cho các dự án và hoàn thành mục tiêu kinh doanh, điều này gián tiếp gây áp lực lên thanh khoản của các ngân hàng.

Cùng với đó, Kho bạc Nhà nước rút hơn 4,5 tỷ USD từ các ngân hàng lớn để giải ngân đầu tư công. Trong quý III/2024, Kho bạc Nhà nước rút một lượng lớn tiền gửi khỏi các ngân hàng quốc doanh như Vietcombank, Vietinbank, BIDV và Agribank để giải ngân đầu tư công, dẫn đến việc giảm khoảng 40% tổng số tiền gửi tại các ngân hàng này so với quý trước. Đồng thời, lượng tiền gửi của các doanh nghiệp tư nhân cũng giảm khoảng 16,6% từ giai đoạn 6 - 9 tháng đầu năm 2024

“Tình hình này buộc nhiều ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút vốn mới, đảm bảo thanh khoản. Các ngân hàng nhỏ và vừa đặc biệt chịu áp lực, phải nâng cao chi phí huy động vốn và gia tăng vay liên ngân hàng ngắn hạn để duy trì hoạt động” - bà Oanh nhìn nhận.

Nhích tăng lãi suất kéo dòng tiền đổ vào ngân hàng

Theo chuyên gia từ FiinGroup, lãi suất huy động cao thúc đẩy tiền gửi tiết kiệm trở thành kênh đầu tư hấp dẫn, giúp dòng tiền đổ vào hệ thống ngân hàng tăng kỷ lục từ đầu năm đến nay. Nhờ đó, thanh khoản được đảm bảo trong ngắn hạn và vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Việc quản lý rủi ro thanh khoản và chiến lược huy động linh hoạt sẽ là yếu tố then chốt giúp hệ thống ngân hàng duy trì sự ổn định trong thời gian tới.

Tín dụng thường bứt tốc cuối năm

Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích

Cuối năm nào cũng vậy, doanh nghiệp thường dùng nhiều vốn trước Tết Âm lịch để trả lương, thưởng và phục vụ sản xuất kinh doanh. Nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh cấp tập cuối năm nên nhu cầu về vốn tăng vọt. Có những năm, quý cuối năm tăng trưởng tín dụng tương đương 1/3 cả năm do nhu cầu thị trường. Nhiều ngân hàng lường trước nhu cầu giải ngân tuần sau thì tuần này sẽ đẩy lãi suất huy động lên một chút để đảm bảo và cân đối thanh khoản, dòng tiền. Luật sư Trương Thanh Đức

Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI cũng cho rằng, việc lãi suất huy động biến động là điều dễ hiểu vì phụ thuộc cung cầu. Với những ngân hàng thừa vốn thì dư dả giải ngân mà không cần phải tăng lãi suất huy động để hút vốn, còn nhiều ngân hàng cần vài nghìn tỷ đồng để cho vay thì phải tăng lãi suất huy động để hút tiền kịp thời. "Điều này hoàn toàn đúng luật chơi, hoàn toàn hợp lý và do cung cầu thị trường quyết định" - ông Đức nhấn mạnh.

Hơn nữa, để tăng tốc huy động vốn, ngân hàng ưu đãi lãi suất cao hơn với khách hàng gửi lượng tiền lớn. "Thay vì phục vụ 1.000 khách hàng phải lập 1.000 sổ, quản lý 1.000 số dư, thay vào đó, huy động được một khách hàng với lượng tiền cao hơn, ngân hàng sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí và dòng tiền, nguồn vốn ổn định hơn, thời hạn kéo dài" - ông Đức dẫn chứng.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất duy trì xu hướng giảm hơn một năm qua. Do đó, khi tín dụng tăng tốc vào cuối năm, việc các ngân hàng phải tăng lãi suất tiết kiệm để thu hút vốn là điều dễ hiểu và điều này có thể kéo theo lãi suất cho vay tăng nhẹ là điều không khó để lý giải.

Trả lời báo giới vừa qua, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, mặc dù thời điểm đầu năm còn nhiều khó khăn tổng quan về mức độ tăng trưởng tín dụng ghi nhận những kết quả tích cực, hài hòa với nhịp độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Nới van tín dụng giúp doanh nghiệp tăng tốc cuối năm

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến 29/11, tổng dư nợ nền kinh tế đạt khoảng 15,3 triệu tỷ đồng, tăng 11,9%; đến ngày 7/12/2024 mức tăng trưởng tín dụng đạt 12,5% và cao hơn mức 9% của cùng kỳ năm 2023. Huy động vốn đạt khoảng 14,8 triệu tỷ đồng và tốc độ tăng của dư nợ đang cao hơn huy động vốn. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về tăng trưởng tín dụng năm 2024, NHNN định hướng mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% và có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Đến ngày 28/8/2024, nhiều ngân hàng cho vay trên 80% chỉ tiêu tín dụng được cấp từ đầu năm được NHNN cấp thêm hạn mức. Mới đây, ngày 28/11/2024, NHNN phát đi thông báo điều chỉnh tăng thêm room tín dụng năm 2024 đối với các tổ chức tín dụng theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch.

NHNN cũng ban hành nhiều văn bản, tổ chức các hội nghị chuyên đề liên quan để quyết liệt chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện tăng trưởng tín dụng hiệu quả, đúng, trúng mục tiêu, tăng cường rà soát, đơn giản hóa quy trình và các thủ tục cấp tín dụng, tối ưu hóa áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh dự báo, với đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của năm 2025, thị trường bất động sản vẫn còn trì trệ cùng khả năng tăng trưởng chưa thực sự rõ nét của thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu, tín dụng có thể tăng trưởng ở mức 13 - 17%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng mở ra dư địa tăng trưởng nhờ tích hợp vào giao dịch số, bán theo khoảnh khắc, thay vì sản phẩm. Theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), lợi thế tiếp cận khách hàng của ngân hàng càng lớn, yêu cầu minh bạch và bảo vệ quyền lựa chọn càng cấp thiết, tránh chạy theo “độ phủ” mà bỏ quên “độ hiểu”.
BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa được Hội đồng thương hiệu quốc gia vinh danh tại Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026. Đây là lần thứ 9 BIDV được trao tặng danh hiệu uy tín này.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 ▼700K 142,400 ▼700K
Hà Nội - PNJ 139,400 ▼700K 142,400 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 139,400 ▼700K 142,400 ▼700K
Miền Tây - PNJ 139,400 ▼700K 142,400 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 139,400 ▼700K 142,400 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 ▼700K 142,400 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,010 ▼50K 14,310 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,010 ▼50K 14,310 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,010 ▼50K 14,310 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,230 ▲80K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,080 ▲30K
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,401 ▼5K 14,312 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,401 ▼5K 14,313 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,393 ▼8K 1,423 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,393 ▼8K 1,424 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,368 ▼8K 1,413 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,901 ▼792K 139,901 ▼792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,336 ▼600K 106,136 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,444 ▼544K 96,244 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,552 ▲68848K 86,352 ▲77668K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,736 ▼467K 82,536 ▼467K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,278 ▼334K 59,078 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 ▼5K 1,431 ▼5K
Cập nhật: 19/10/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18413
CAD 17856 18130 18748
CHF 30738 31115 31754
CNY 0 3834 3930
EUR 28424 28641 29721
GBP 33724 34112 35053
HKD 0 3169 3371
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14369 14956
SGD 19702 19983 20563
THB 687 750 804
USD (1,2) 25635 0 0
USD (5,10,20) 25673 0 0
USD (50,100) 25701 25715 26085
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,720 25,720 26,100
USD(1-2-5) 24,692 - -
USD(10-20) 24,692 - -
EUR 28,502 28,525 29,878
JPY 159.44 159.73 169.41
GBP 33,905 33,997 35,175
AUD 17,730 17,794 18,475
CAD 18,025 18,083 18,752
CHF 31,047 31,144 32,074
SGD 19,824 19,886 20,677
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,234 3,244 3,380
KRW 17.94 18.71 20.36
THB 735.84 744.93 797.65
NZD 14,339 14,472 14,905
SEK - 2,568 2,659
DKK - 3,823 3,958
NOK - 2,699 2,795
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,931.2 - 6,696.63
TWD 719.99 - 872.32
SAR - 6,786.05 7,148.56
KWD - 81,843 87,092
AED - 6,798 7,326
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 28,471 28,614 29,839
GBP 33,879 34,049 35,084
HKD 3,228 3,247 3,364
CHF 30,861 31,016 31,962
JPY 159.06 160.67 168.65
AUD 17,680 17,805 18,401
SGD 19,800 19,980 20,575
THB 741 756 794
CAD 17,976 18,103 18,701
NZD 14,408 14,965
KRW 18.79 20.78
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25683 25713 26073
AUD 17721 17821 18746
CAD 18015 18115 19126
CHF 30974 31004 32582
CNY 3815.4 3840.4 3975.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28571 28601 30323
GBP 34002 34052 35808
HKD 0 3315 0
JPY 160.15 160.65 171.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14458 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19854 19984 20705
THB 0 715.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14010000 14010000 14310000
SBJ 12500000 12500000 14310000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,607 25,727 26,030
USD20 25,577 25,727 26,030
USD1 25,557 25,727 26,030
AUD 17,776 17,876 18,981
EUR 28,396 28,496 30,155
CAD 17,973 18,073 19,379
SGD 19,940 20,090 20,644
JPY 160.69 162.19 167.73
GBP 33,928 34,078 35,140
XAU 14,098,000 0 14,312,000
CNY 0 3,796 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/10/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30