Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều doanh nghiệp tất bật hoàn thành các dự án cũng như mục tiêu kinh doanh đề ra vào giai đoạn cuối năm. Với những tín hiệu tích cực hiện tại và mức tăng trưởng tín dụng hiện chỉ còn cách vạch đích 2,5%, các chuyên gia cho rằng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm nay sớm đạt được.
aa
Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích
Để tăng tốc huy động vốn, ngân hàng ưu đãi lãi suất cao hơn với khách hàng gửi lượng tiền lớn. Ảnh tư liệu

Tất bật những ngày cuối năm hoàn thiện nhà máy mới xây tại Bắc Ninh, trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng cho biết, đến lúc công ty phải thay đổi và cần nhà máy mới đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu năm tới cũng như đáp ứng yêu cầu khắt khe từ tập khách hàng là doanh

nghiệp FDI. Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật tư bao bì trong lĩnh vực công nghiệp, công ty ngày càng phải đáp ứng các yêu cầu cao về tiêu chuẩn chất lượng và năng lực cung ứng cho các nhà máy nước ngoài.

Ông Hoàn cho biết, công ty vay vốn lưu động với lãi suất chỉ 6,2%/năm từ Vietcombank, với thời gian cho vay ngắn 6 tháng, thủ tục đơn giản, dù vất vả xoay vòng nhưng lãi suất vay khá thấp. Lạc quan về những tín hiệu tích cực về bối cảnh sản xuất kinh doanh năm tới song theo lãnh đạo Công ty Thái Hưng, tuỳ loại hình doanh nghiệp và phải từ chính nội lực, mỗi doanh nghiệp lựa chọn có chủ động nắm bắt cơ hội năm tới và sẵn sàng đương đầu khó khăn, thách thức hay không.

Nhu cầu vốn cải thiện rõ nét cuối năm

Nền kinh tế càng về cuối năm càng có thêm thuận lợi, các doanh nghiệp và hệ thống tổ chức tín dụng đều nhìn thấy dấu hiệu phục hồi và phát triển trở lại, đây là một dấu hiệu đáng mừng. Không chỉ Công ty Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng mà nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đang rộn ràng chuẩn bị cho mùa vụ kinh doanh cuối năm và chuẩn bị kế hoạch sản xuất kinh doanh năm tới nên nhu cầu vốn rất cao.

Theo PGS. TS Đinh Trọng Thịnh - chuyên gia kinh tế, các hoạt động kinh tế phục hồi mạnh mẽ từ mức đáy của đại dịch và tăng trưởng GDP của Việt Nam tốt qua các quý. Theo đó, quý I tăng 5,66%, quý II tăng 6,93%, quý III tăng 7,4% - đây là tốc độ tăng trưởng cao nhất kể từ quý III/2022, khi các hoạt động kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ từ mức đáy của đại dịch, tính chung 9 tháng tăng 6,84%. Giai đoạn cuối năm, đà tăng trưởng GDP được đánh giá tốt hơn và các doanh nghiệp tự tin đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn gia tăng cuối năm, bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ Tài chính, Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn FiinGroup nhìn nhận, thanh khoản ngân hàng cuối năm có dấu hiệu căng thẳng nhất thời khi nhìn vào lãi suất liên ngân hàng tăng cao. Lãi suất qua đêm bằng VND đạt 6,08% vào tháng 11, tăng từ 4,07% trong tháng 9.

Nguyên nhân chính là do tình hình rút vốn từ doanh nghiệp. Cuối năm cũng là thời điểm mà nhiều doanh nghiệp, tổ chức thực hiện rút vốn để phục vụ cho các dự án và hoàn thành mục tiêu kinh doanh, điều này gián tiếp gây áp lực lên thanh khoản của các ngân hàng.

Cùng với đó, Kho bạc Nhà nước rút hơn 4,5 tỷ USD từ các ngân hàng lớn để giải ngân đầu tư công. Trong quý III/2024, Kho bạc Nhà nước rút một lượng lớn tiền gửi khỏi các ngân hàng quốc doanh như Vietcombank, Vietinbank, BIDV và Agribank để giải ngân đầu tư công, dẫn đến việc giảm khoảng 40% tổng số tiền gửi tại các ngân hàng này so với quý trước. Đồng thời, lượng tiền gửi của các doanh nghiệp tư nhân cũng giảm khoảng 16,6% từ giai đoạn 6 - 9 tháng đầu năm 2024

“Tình hình này buộc nhiều ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút vốn mới, đảm bảo thanh khoản. Các ngân hàng nhỏ và vừa đặc biệt chịu áp lực, phải nâng cao chi phí huy động vốn và gia tăng vay liên ngân hàng ngắn hạn để duy trì hoạt động” - bà Oanh nhìn nhận.

Nhích tăng lãi suất kéo dòng tiền đổ vào ngân hàng

Theo chuyên gia từ FiinGroup, lãi suất huy động cao thúc đẩy tiền gửi tiết kiệm trở thành kênh đầu tư hấp dẫn, giúp dòng tiền đổ vào hệ thống ngân hàng tăng kỷ lục từ đầu năm đến nay. Nhờ đó, thanh khoản được đảm bảo trong ngắn hạn và vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Việc quản lý rủi ro thanh khoản và chiến lược huy động linh hoạt sẽ là yếu tố then chốt giúp hệ thống ngân hàng duy trì sự ổn định trong thời gian tới.

Tín dụng thường bứt tốc cuối năm

Doanh nghiệp tất bật mùa cuối năm, tăng trưởng tín dụng nước rút về đích

Cuối năm nào cũng vậy, doanh nghiệp thường dùng nhiều vốn trước Tết Âm lịch để trả lương, thưởng và phục vụ sản xuất kinh doanh. Nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh cấp tập cuối năm nên nhu cầu về vốn tăng vọt. Có những năm, quý cuối năm tăng trưởng tín dụng tương đương 1/3 cả năm do nhu cầu thị trường. Nhiều ngân hàng lường trước nhu cầu giải ngân tuần sau thì tuần này sẽ đẩy lãi suất huy động lên một chút để đảm bảo và cân đối thanh khoản, dòng tiền. Luật sư Trương Thanh Đức

Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI cũng cho rằng, việc lãi suất huy động biến động là điều dễ hiểu vì phụ thuộc cung cầu. Với những ngân hàng thừa vốn thì dư dả giải ngân mà không cần phải tăng lãi suất huy động để hút vốn, còn nhiều ngân hàng cần vài nghìn tỷ đồng để cho vay thì phải tăng lãi suất huy động để hút tiền kịp thời. "Điều này hoàn toàn đúng luật chơi, hoàn toàn hợp lý và do cung cầu thị trường quyết định" - ông Đức nhấn mạnh.

Hơn nữa, để tăng tốc huy động vốn, ngân hàng ưu đãi lãi suất cao hơn với khách hàng gửi lượng tiền lớn. "Thay vì phục vụ 1.000 khách hàng phải lập 1.000 sổ, quản lý 1.000 số dư, thay vào đó, huy động được một khách hàng với lượng tiền cao hơn, ngân hàng sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí và dòng tiền, nguồn vốn ổn định hơn, thời hạn kéo dài" - ông Đức dẫn chứng.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất duy trì xu hướng giảm hơn một năm qua. Do đó, khi tín dụng tăng tốc vào cuối năm, việc các ngân hàng phải tăng lãi suất tiết kiệm để thu hút vốn là điều dễ hiểu và điều này có thể kéo theo lãi suất cho vay tăng nhẹ là điều không khó để lý giải.

Trả lời báo giới vừa qua, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, mặc dù thời điểm đầu năm còn nhiều khó khăn tổng quan về mức độ tăng trưởng tín dụng ghi nhận những kết quả tích cực, hài hòa với nhịp độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Nới van tín dụng giúp doanh nghiệp tăng tốc cuối năm

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến 29/11, tổng dư nợ nền kinh tế đạt khoảng 15,3 triệu tỷ đồng, tăng 11,9%; đến ngày 7/12/2024 mức tăng trưởng tín dụng đạt 12,5% và cao hơn mức 9% của cùng kỳ năm 2023. Huy động vốn đạt khoảng 14,8 triệu tỷ đồng và tốc độ tăng của dư nợ đang cao hơn huy động vốn. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về tăng trưởng tín dụng năm 2024, NHNN định hướng mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% và có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Đến ngày 28/8/2024, nhiều ngân hàng cho vay trên 80% chỉ tiêu tín dụng được cấp từ đầu năm được NHNN cấp thêm hạn mức. Mới đây, ngày 28/11/2024, NHNN phát đi thông báo điều chỉnh tăng thêm room tín dụng năm 2024 đối với các tổ chức tín dụng theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch.

NHNN cũng ban hành nhiều văn bản, tổ chức các hội nghị chuyên đề liên quan để quyết liệt chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện tăng trưởng tín dụng hiệu quả, đúng, trúng mục tiêu, tăng cường rà soát, đơn giản hóa quy trình và các thủ tục cấp tín dụng, tối ưu hóa áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh dự báo, với đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của năm 2025, thị trường bất động sản vẫn còn trì trệ cùng khả năng tăng trưởng chưa thực sự rõ nét của thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu, tín dụng có thể tăng trưởng ở mức 13 - 17%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80