Dự báo tín dụng khởi sắc nhưng thu nhập lãi thuần có thể suy giảm

Ánh Tuyết
Giới phân tích dự báo, tăng trưởng tín dụng năm 2025 có thể đạt hoặc vượt mục tiêu đề ra (16%). Dù tín dụng tăng cao, thu nhập lãi thuần vẫn có xu hướng giảm do những thách thức trong việc duy trì và mở rộng biên lãi ròng (NIM).
aa

Trong báo cáo đánh giá về ngành ngân hàng mới công bố, Chứng khoán MB (MBS) kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ đạt 17-18% trong năm 2025, giả định trong trường hợp GDP tăng trưởng 7 - 8%, nhờ vào hai động lực chính.

Động lực giúp tín dụng bứt tốc đạt 17-18%

Nhóm nghiên cứu MBS chỉ rõ, một là, sự phục hồi mạnh mẽ của ngành sản xuất và tiêu dùng tại Việt Nam trong năm 2025. Cuộc chiến thương mại lần 2 có thể một lần nữa mang lại cơ hội cho các quốc gia thuộc nhóm “Trung Quốc +” như Ấn Độ, Đông Nam Á ...

Việc tiêu dùng chưa phục hồi hoàn toàn trong năm 2024, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng chậm của doanh số bán lẻ chỉ đạt 9,3% so với cùng kỳ, cho thấy dư địa tăng trưởng tiêu dùng đáng kể trong năm 2025. Vì vậy, tín dụng bán lẻ được kỳ vọng sẽ đóng góp tỷ trọng lớn hơn vào tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng nhờ nhu cầu gia tăng và mức nền thấp trong năm trước.

Hai là, tỷ lệ giải ngân đầu tư công duy trì ở mức cao. Theo MBS, chi tiêu công năm 2024 đạt 86,4% kế hoạch năm, tăng 5,7% so với cùng kỳ. Với kịch bản tăng trưởng GDP đạt 8% vào năm 2025 sẽ thúc đẩy Chính phủ đẩy nhanh tốc độ giải ngân, với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch dự báo đạt khoảng 90%.

Điều này kỳ vọng sẽ củng cố tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp và cải thiện sức mua của khu vực dân cư năm 2025.

Dự báo tín dụng khởi sắc nhưng thu nhập lãi thuần có thể suy giảm
Dự báo tín dụng khởi sắc nhưng thu nhập lãi thuần có thể suy giảm. Ảnh tư liệu.
Theo Phó Thống đốc, đến thời điểm hiện tại, tín dụng đã tăng gần 1%, trong khi cùng kỳ năm 2023 và 2024, tín dụng vẫn ở mức âm 0,74%. Năm nay, các ngân hàng thương mại sớm vào cuộc và cung ứng vốn cho nền kinh tế một cách khá tích cực.

Tín hiệu lạc quan từ tín dụng tăng trưởng cũng được Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú chia sẻ tại Hội nghị đẩy mạnh tín dụng ngành ngân hàng, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại khu vực 15, tổ chức giữa tháng 3/2025.

Theo Phó Thống đốc, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 8%, ngành ngân hàng đặt ra kế hoạch tăng trưởng tín dụng khoảng 16%, một nhiệm vụ đầy thách thức, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ từ cả ngân hàng và doanh nghiệp.

Theo đó, lãnh đạo NHNN đề nghị, về phía ngân hàng, cần tạo điều kiện thuận lợi về chính sách và cơ chế tín dụng, đảm bảo giảm lãi suất một cách thực chất, dựa trên việc cắt giảm chi phí quản lý hành chính, đồng thời đồng hành và hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh cả trong nước và quốc tế.

Về phía doanh nghiệp, cần nâng cao khả năng hấp thụ vốn, tái cơ cấu sản xuất và xây dựng chiến lược kinh doanh linh hoạt cho ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Giảm kỳ vọng về tăng trưởng lợi nhuận

Cũng theo MBS, các ngân hàng hội tụ một số điều kiện sẽ có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn năm 2025. Thứ nhất, ngân hàng có tỷ lệ sử dụng hạn mức tín dụng cao trong năm 2024. Theo đó, các ngân hàng đã sử dụng hết hạn mức tín dụng cao trong năm 2024 sẽ có lợi thế cạnh tranh trong việc đảm bảo hạn mức tín dụng cho năm 2025.

Thứ hai, tăng trưởng chi phí dự phòng và cải thiện chất lượng tài sản. Việc gia tăng chi phí dự phòng trong năm 2024, kết hợp với việc cải thiện chất lượng tài sản, sẽ giảm bớt áp lực từ việc gia tăng nợ xấu trong năm 2025 khi tăng trưởng tín dụng ngân hàng bán lẻ phục hồi.

Thứ ba, sự phục hồi mạnh mẽ của NIM (biên lãi ròng) trong năm 2024. Theo MBS, sự phục hồi mạnh mẽ của NIM trong năm 2024 sẽ giúp các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, tạo ra lợi thế quan trọng trong việc mở rộng tín dụng vào năm 2025.

Dự báo tín dụng khởi sắc nhưng thu nhập lãi thuần có thể suy giảm
Nguồn: MBS Research.

Tuy nhiên, theo nhóm phân tích MBS, mặc dù dự báo tăng trưởng tín dụng cao hơn song thu nhập lãi thuần giảm do khó khăn trong việc tăng trưởng NIM.

Nhiều yếu tố kìm đà tăng của NIM

“Lợi nhuận ròng của các ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân dự báo tăng lần lượt 14,7% và 19,8% so với cùng kỳ. Áp lực tăng lãi suất cho vay của các ngân hàng quốc doanh cao hơn so với các ngân hàng tư nhân, do vai trò ổn định vĩ mô khiến các ngân hàng này thận trọng hơn trong việc đẩy mạnh tín dụng vào phân khúc bán lẻ, qua đó hạn chế mức tăng của NIM” - MBS nhận định.

MBS lý giải, mặc dù tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ trong 2 tháng đầu năm 2025 so với năm trước cho thấy nhu cầu tín dụng mạnh mẽ, song mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% gây thêm áp lực lên ngưỡng an toàn thanh khoản của các ngân hàng trong các quý tới. Vì vậy, chi phí vốn của các ngân hàng trong năm 2025 khó có thể giảm so với năm 2024.

“Tăng trưởng lợi nhuận ròng của các ngân hàng theo dõi xuống còn 17,7% so với cùng kỳ trong năm 2025 (so với 20,2% trong dự báo trước). Chúng tôi điều chỉnh chủ yếu do lo ngại về mức trích lập dự phòng cao trong năm nay” - nhóm phân tích đánh giá.

Hơn nữa, dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì lãi suất cho vay thấp trong năm 2025 để hỗ trợ người đi vay do áp lực cạnh tranh lớn trong việc thúc đẩy tín dụng. Với áp lực tăng lãi suất tiền gửi trong các quý tới, MBS dự báo NIM của các ngân hàng khó có thể tăng mạnh trong năm 2025.

Cùng chung quan điểm, chuyên gia FiinRatings cũng cho rằng, năm 2025, với việc các chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, nhiều ngân hàng có thể sẽ vượt mức mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% của toàn hệ thống.

Tuy nhiên, NIM dự kiến sẽ đi ngang hoặc giảm nhẹ, do hai yếu tố chính, đó là áp lực cạnh tranh lãi suất cho vay giữa các ngân hàng và lãi suất huy động có thể tăng nhẹ. Trước bối cảnh này, các ngân hàng sẽ phải tối ưu hóa hiệu suất hoạt động, cắt giảm chi phí để duy trì lợi nhuận./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 144,200
Hà Nội - PNJ 140,700 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,700 144,200
Miền Tây - PNJ 140,700 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,700 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 14,480
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,790 14,390
Trang sức 99.99 13,800 14,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 19/08/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18070 18345 18924
CAD 18341 18617 19234
CHF 31588 31968 32616
CNY 0 3830 3940
EUR 29673 29895 30979
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3207 3410
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15671
SGD 19948 20230 20801
THB 707 770 823
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Cập nhật: 19/08/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80