Dự kiến các kịch bản, sẵn sàng tăng tốc “cán đích” năm 2021

Hà My
(TBTCVN) - Trong bối cảnh dịch Covid-19 dự báo vẫn còn diễn biến phức tạp, việc hoàn thành các chỉ tiêu của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam trong năm 2021 là hết sức khó khăn.
aa

bh

Bảo hiểm Xã hội một số địa phương đã chuyển đổi mô hình truyền thông trực tiếp sang truyền thông nhóm nhỏ.

Toàn ngành chủ trương nắm bắt cơ hội trong 5 tháng cuối năm, dự kiến các kịch bản, giải pháp để có thể sẵn sàng tăng tốc và bứt phá hoàn thành nhiệm vụ, sau khi dịch bệnh được khống chế.

Đảm bảo quyền lợi cho người tham gia

Báo cáo kết quả thực hiện các chính sách 7 tháng đầu năm của Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam cho thấy, tính đến hết tháng 7/2021, toàn quốc có khoảng 16 triệu người tham gia BHXH, chiếm 32,08% lực lượng lao động. Trong đó gồm: hơn 14,7 triệu người tham gia BHXH bắt buộc; gần 1,2 triệu người tham gia BHXH tự nguyện; hơn 13 triệu người tham gia BH thất nghiệp (TN); hơn 85 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), đạt tỷ lệ bao phủ 87,17% dân số. Tổng số thu của toàn ngành là 224.529 tỷ đồng, đạt 56,18% kế hoạch...

BHXH Việt Nam cho biết, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp khiến nhiều doanh nghiệp lao đao, tỷ lệ người lao động (NLĐ) thất nghiệp gia tăng, thì chính sách BHTN đã trở thành “điểm tựa” giúp bảo đảm phần nào đời sống của một bộ phận NLĐ thất nghiệp và gia đình, góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước. Riêng trong tháng 7/2021, BHXH các địa phương đã phối hợp với ngành Lao động - Thương binh & Xã hội giải quyết cho 80.021 người hưởng BHTN, trong đó có 79.087 người hưởng trợ cấp thất nghiệp và 934 người hưởng chế độ học nghề. Ngoài ra, còn có hơn 8,3 triệu lượt người đi khám chữa bệnh (KCB) BHYT và được quỹ BHYT chi trả chi phí lên tới 6.423 tỷ đồng.

Đặc biệt, để đảm bảo quyền lợi và an toàn cho người dân, BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các địa phương thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH gộp 2 tháng (tháng 7, 8) vào cùng một kỳ chi trả; hướng dẫn BHXH các tỉnh thanh toán chi phí xét nghiệm Covid-19 theo chế độ BHXH; hướng dẫn người dân tham gia và đóng BHYT hộ gia đình trong thời gian phòng chống dịch; tạm ứng, thanh, quyết toán chi phí KCB BHYT cho các cơ sở KCB, đảm bảo nguồn kinh phí phục vụ công tác KCB cho người tham gia BHYT, không để người bệnh tự chi trả chi phí trong phạm vi quyền lợi được hưởng.

BHXH Việt Nam cũng đã kịp thời cung cấp 6 dịch vụ công (DVC) trên Cổng DVC của ngành; kết nối, tích hợp, cung cấp 5 DVC trên Cổng DVC quốc gia. Đồng thời, BHXH hoàn thiện, nâng cấp, bổ sung các tính năng, tiện ích trên ứng dụng VssID-BHXH số. Tính đến 31/7, toàn quốc đã có gần 17 triệu lượt người tải, cài đặt và sử dụng ứng dụng VssID, đạt 67,2% so với kế hoạch.

Vượt khó nắm bắt cơ hội 5 tháng cuối năm

BHXH Việt Nam đánh giá, những tháng còn lại của năm 2021 sẽ là giai đoạn khó khăn đối với toàn ngành, khi dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tác động mạnh đến nhiều chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Đáng lo ngại nhất là những tác động tiêu cực của dịch bệnh đến công tác thu và phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT. Tác động tiêu cực có thể nhìn thấy rõ là hiện nay, số người tham gia BHXH, BHYT trên cả nước đều giảm so với tháng 6/2021 và thời điểm cuối năm 2020.

Theo ông Dương Văn Hào - Trưởng ban Quản lý Thu - Sổ thẻ (BHXH Việt Nam), sẽ rất khó khăn trong bối cảnh dịch vẫn còn diễn biến phức tạp, cùng với việc giảm số người tham gia BHYT (khoảng 3,9 triệu người), khi triển khai Quyết định số 861/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025. Bên cạnh đó, mặc dù trong tháng 7 có 26 địa phương phát triển được người tham gia BHXH tăng so với tháng 6, nhưng do đa số là các tỉnh nhỏ nên không thể bù lại được số lượng sụt giảm ở các tỉnh, thành phố lớn. Trong khi đó, tốc độ phát triển BHXH tự nguyện tăng thấp. Do ảnh hưởng của dịch bệnh, việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động trực tiếp người dân tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình gặp nhiều khó khăn...

Phát biểu tại hội nghị giao ban tháng 8 mới đây của BHXH Việt Nam, Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh nhấn mạnh, hiện nay, phòng chống dịch là nhiệm vụ ưu tiên số một. Song, việc dự kiến các kịch bản, giải pháp để có thể sẵn sàng tăng tốc và bứt phá hoàn thành nhiệm vụ sau khi dịch bệnh được khống chế cũng rất cần thiết.

Theo ông Nguyễn Thế Mạnh, hoàn thành được tất cả các chỉ tiêu của cả năm 2021 là rất thách thức, nhưng cơ hội của 5 tháng cuối năm chưa hẳn là không có. Nếu chúng ta biết nắm bắt cơ hội thì sẽ có được thành quả. Vì vậy, người đứng đầu ngành BHXH Việt Nam yêu cầu các đơn vị trong toàn ngành cần kiên định các chỉ tiêu, kế hoạch đã đề ra; tiếp tục triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển người tham gia BHXH, BHYT; sử dụng ứng dụng VssID một cách linh hoạt, phù hợp với tình hình diễn biến dịch bệnh... Bên cạnh đó, BHXH thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch Covid-19, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của người tham gia; nghiêm túc triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ NLĐ và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch...

Nâng cao hơn nữa dự báo trước những biến động


Nhận định tình hình dịch bệnh có thể kéo dài và phức tạp, Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam Trần Đình Liệu yêu cầu các đơn vị phải xác định rõ tâm lý đối diện với khó khăn một cách thường xuyên; nâng cao hơn nữa việc dự báo trước những biến động ở từng quý, từng năm…; xác định chi tiết các nhóm đối tượng tiềm năng để có kế hoạch và cách tiếp cận, cách làm hợp lý, hiệu quả. Đối với BHXH các địa phương cần nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ.

Hà My

Hà My

Đọc thêm

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 15,140
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 15,030
Trang sức 99.99 14,340 15,040
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 05/07/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/07/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80