FED tăng lãi suất lần thứ 10, tác động ra sao tới Việt Nam?

Chí Tín
(TBTCO) - Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã chính thức tăng lãi suất thêm một lần nữa, ghi nhận lần tăng lãi suất thứ 10 kể từ tháng 3/2022 đến nay. Tuy nhiên, diễn biến lần này cũng có những điểm khác khi giới tài chính đang kỳ vọng một sự chuyển đổi trạng thái đang dần diễn ra từ chính sách tiền tệ thắt chặt sang giai đoạn bớt thắt chặt hơn, thậm chí nới lỏng dần.
aa

Lãi suất tăng bất chấp khủng hoảng ngân hàng

Mặc dù cuộc khủng hoảng ngân hàng vẫn đang diễn ra với sự kiện gần đây nhất là vụ phá sản của First Republic Bank (FRB), nhưng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) vẫn kiên định với quyết định tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản (0,25 điểm phần trăm), đưa lãi suất điều hành của Mỹ lên mức kỷ lục 5 - 5,25%.

Trước đó, kể từ tháng 3 đến nay, một loạt các ngân hàng Mỹ đã phải công bố phá sản, đó là trường hợp Silicon Valley Bank (SVB), tiếp đó là Signature Bank (SB) và gần đây nhất là FRB. Trong đó, một trong những nguyên nhân dẫn đến các ngân hàng mất thanh khoản là do tình trạng lãi suất tăng, khiến các ngân hàng không tự cân đối được các loại tài sản.

Mặc dù vậy, động thái tăng lãi suất trong 2 lần gần đây của FED chỉ ở mức 25 điểm cơ bản của FED cũng phần nào cho thấy thái độ có phần nhẹ tay hơn của FED, nếu như không có sự cố SVB xảy ra. Diễn biến này cũng có phần khác với các dự báo trước khi cuộc khủng hoảng ngân hàng diễn ra, bởi vào giai đoạn cuối tháng 2 và đầu tháng 3/2023, một số nhà kinh tế cũng đưa ra một số dự báo về khả năng tăng lãi suất của FED với cường độ mạnh hơn mức 0,25 điểm phần trăm do tình hình lạm phát ở Mỹ đang có dấu hiệu tăng trở lại.

Nguồn: Cục Dự trữ liên bang Mỹ
Nguồn: Cục Dự trữ liên bang Mỹ

Đánh giá về quan điểm của FED về động thái vẫn duy trì việc tăng lãi suất, bất kể cuộc khủng hoảng ngân hàng vẫn đang diễn ra, TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, các ngân hàng bị phá sản giai đoạn vừa qua thực ra không phải là những ngân hàng có sức ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Tổng tài sản của những ngân hàng này quy mô khá nhỏ so với tổng quy mô của toàn ngành ngân hàng Mỹ, nên các sự kiện này vẫn được coi là các diễn biến đơn lẻ chứ không mang tính hệ thống, vì thế nó chưa thể đủ để thay đổi chính sách tiền tệ của FED.

Dự báo xu hướng đảo chiều

Một trong những động thái đáng chú ý sau động thái tăng lãi suất của FED lần này là sự bật tăng mạnh của giá vàng. Đây là một diễn biến khác, ngược so với diễn biến thông thường, đó là vàng thường bị giảm giá khi lãi suất tăng.

Giá vàng thế giới đã tăng mạnh trước và tại thời điểm FED chính thức công bố việc tăng lãi suất. Giá vàng thế giới rạng sáng ngày 4/5 theo giờ Việt Nam tăng mạnh với vàng giao ngay đạt mức 2.051,6 USD/ounce, vàng tương lai tháng 6 giao dịch lần cuối ở mức 2.072,1 USD/ounce. Giá vàng sau đó tiếp tục lập đỉnh vào phiên giao dịch tối 4/5 theo giờ Việt Nam, sau đó quay đầu giảm nhẹ nhưng vẫn neo ở mức cao.

Việc tăng giá của vàng khi FED tăng lãi suất lần này tuy khác quy luật thông thường (vàng thường diễn biến ngược với lãi suất), nhưng lần này cũng có lý do nhất định bởi lần tăng lãi suất này của FED cũng có những tính chất khác với những lần tăng trước đây.

Thị trường tiền tệ trong nước đang khá độc lập với động thái của Cục Dự trữ liên bang Mỹ

Thị trường trong nước vừa qua có diễn biến độc lập trong chính sách tiền tệ với Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED). Một trong những yếu tố cho thấy sự độc lập đó là việc Ngân hàng Nhà nước vẫn thực hiện quyết định hạ lãi suất điều hành, ngược lại các động thái thực hiện các đợt tăng lãi suất của FED.

Theo ông Châu Đình Linh, hiện nay, tác động của việc FED tăng lãi suất với thị trường tiền tệ trong nước có thể chỉ ảnh hưởng đến tỷ giá. Tuy nhiên, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã có động thái tăng mua dự trữ ngoại tệ khá nhiều nên việc điều tiết tỷ giá thời gian này cũng sẽ khá chủ động.

Theo một số nhà phân tích, 2 lần tăng gần đây nhất của FED đưa lãi suất đi đến tiệm cận mức lãi suất cao cuối năm 2006 - 2007 và giai đoạn sau đó (năm 2008) là thời kỳ lãi suất chuyển sang xu hướng giảm trước diễn biến nền kinh tế Mỹ đối diện cuộc khủng hoảng. Trong khi đó, thông điệp của FED sau lần tăng lãi suất lần này cũng không còn khẳng định về lộ trình sẽ tiếp tục tăng lãi suất mà sẽ phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế và điều kiện tài chính.

Đánh giá về bối cảnh này, ông Châu Đình Linh cho biết, điều này ít nhiều đưa ra một vài tín hiệu báo hiệu chu kỳ thắt chặt tiền tệ của Mỹ sắp kết thúc, tiếp theo giai đoạn giảm lãi suất. Mặc dù vậy, ông Linh cho biết, xu hướng giảm cũng chưa thể xuất hiện ngay mà còn phục thuộc các yếu tố môi trường bên ngoài, tăng trưởng, lạm phát…

Trong khi đó, với nền kinh tế Việt Nam, những lần tăng lãi suất của FED gần đây cho thấy các hành động của FED càng ngày càng ít ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ trong nước. Một trong những lý do là động thái chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang có xu hướng nới lỏng để ưu tiên mục tiêu kích thích tăng trưởng, ngược với hành động thời gian qua của FED là thắt chặt tiền tệ để ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Ông Linh cho biết, mục tiêu nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước thậm chí có thể sẽ còn cần tăng liều lượng hơn nữa nếu như các số liệu tăng trưởng trong quý II vẫn tiếp tục chưa chuyển động rõ rệt./.

Chí Tín

Đọc thêm

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức giảm phổ biến 1,5 - 1,9 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (mã ck: VIB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

(TBTCO) - Quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của F88 đạt 303 tỷ đồng, tăng 129,4% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay đạt gần 7.900 tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính đến hết tháng 3/2026, tổng vay và trái phiếu phát hành của F88 đạt khoảng 3.960,8 tỷ đồng, tăng khoảng 10,5% so với đầu năm.
Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các ngân hàng và ví điện tử tại Việt Nam đang mở rộng từ dịch vụ tài chính cơ bản sang mô hình hệ sinh thái tích hợp. Người dùng không chỉ chuyển tiền hay thanh toán, mà còn kỳ vọng thực hiện nhiều nhu cầu tài chính trên cùng một nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,150 15,350
Nguyên Liệu 99.9 15,100 15,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 30/04/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/04/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80