Gần hai năm gập ghềnh thoát khó, tín hiệu lạc quan với bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều tín hiệu khả quan dần quay trở lại với hoạt động phân phối bảo hiểm qua ngân hàng khi các nhà băng ghi nhận tốc độ tăng trưởng khoản thu từ hoạt động bảo hiểm đạt 6,2% trong 3 quý đầu năm 2024. Lạc quan hơn, có ngân hàng đã phục hồi hoàn toàn và lấy lại những gì đã mất sau biến cố.
aa
Lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay liệu có tăng theo?

Có ngân hàng phục hồi hoàn toàn

Cập nhật của TBTCVN từ báo cáo tài chính quý III/2024 tại một số ngân hàng công bố thông tin các khoản thu từ hoạt động kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm cho thấy, trong 9 tháng năm 2024, các nhà băng ghi nhận tốc độ tăng trưởng 6,2% so với cùng kỳ, với nguồn thu 10.561 tỷ đồng.

Lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay liệu có tăng theo?

CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN KÊNH BANCASSURANCE

Đây là một mảng không thể thiếu vì tiềm năng phát triển. Trong khi các ngân hàng khác sẽ hợp tác với doanh nghiệp bảo hiểm bên ngoài nhưng riêng MB Bank xây dựng doanh nghiệp bảo hiểm trong hệ sinh thái. Lãnh đạo ngân hàng dành nhiều sự quan tâm với kênh bancassurance và không hề thuyên giảm kể cả trong giai đoạn khủng hoảng. Ông Trần Hoàng Mạnh Việt - Giám đốc kinh doanh khu vực phụ trách kênh truyền thống của MB Ageas Life

Do sụt giảm tăng trưởng số lượng hợp đồng khai thác mới cũng như doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ sau biến cố lớn đã kéo theo tình hình toàn thị trường ảm đạm kéo dài gần hai năm qua. Không chỉ doanh thu phí bảo hiểm các doanh nghiệp trong ngành tụt dốc mà doanh số bán bảo hiểm tại các ngân hàng cũng không tránh khỏi tình cảnh bi đát. Thế nhưng, nhiều tín hiệu khả quan với hoạt động phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) dần quay trở lại.

Trong 9 tháng năm 2024, các nhà băng gặt hái thu nhập hàng nghìn tỷ đồng từ hoạt động bảo hiểm có thể kể đến như: MB dẫn đầu với doanh thu 5.989,9 tỷ đồng; VPBank đạt 2.820 tỷ đồng. Các nhà băng khác cũng thu lớn như: Techcombank đạt 594 tỷ đồng; LPBank gần 384 tỷ đồng; VIB và TPBank lần lượt thu 345 tỷ đồng và 290 tỷ đồng…

Đáng chú ý, xét về tốc độ tăng trưởng, có 5 ngân hàng tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó, 4/5 nhà băng tăng mạnh hai Nguồn: TBTCVN tổng hợp chữ số. Đứng đầu tăng trưởng là Kienlongbank, với mức tăng 70%; tiếp đến là VPBank, Techcombank và SeABank, tương ứng mức tăng trưởng 51%; 30%; 14% cùng kỳ. Riêng MB đạt mức doanh thu tương đương cùng kỳ năm trước.

Số liệu do TBTCVN tổng hợp cũng cho thấy, VPBank là ngân hàng hiếm hoi sớm lấy lại những gì đã mất và thoát khỏi vòng xoáy khó khăn. Tính chung 9 tháng 2024, nhà băng này thu 2.821 tỷ đồng từ bảo hiểm. Sau khi sụt giảm hai chữ số cùng kỳ năm 2023 vì “thấm” khó khăn, VPBank đã lấy lại đà tăng trưởng 51% trong 9 tháng 2024, như vậy, đến nay thu nhập từ hoạt động bảo hiểm đã tăng trưởng dương 15,7% so với cùng kỳ năm 2022.

Cập nhật từ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cũng cho thấy trong quý III/2024, doanh thu khai thác mới của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đạt hơn 5.934 tỷ đồng, ánh lên tín hiệu khởi sắc với tốc độ tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ năm 2023 (5.874 tỷ đồng).

Dành nhiều nỗ lực, chưa hoàn toàn thoát khó

Theo ông Ngô Trung Dũng - Phó Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, chỉ số tăng trưởng dương cho thấy niềm tin và sự lạc quan dần quay lại với thị trường bảo hiểm nhân thọ, dù còn nhiều khó khăn phía trước để giữ vững đà tăng.

Dẫn đầu các ngân hàng nêu trên với khoản thu 5.989 tỷ đồng, thu nhập từ hoạt động bảo hiểm đóng góp tới 58% thu nhập từ hoạt động dịch vụ của MB. Đây là một trong số ít các ngân hàng có hai doanh nghiệp bảo hiểm trong hệ sinh thái gồm Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) và Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas Life. Trước đây, doanh thu từ bảo hiểm của MB chiếm tới 70% doanh thu từ hoạt động dịch vụ, tăng nhanh trong giai đoạn 2019 - 2022 và chỉ giảm tốc năm 2023 và hiện chỉ còn chiếm 58%.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Hoàng Mạnh Việt - Giám đốc kinh doanh khu vực phụ trách kênh truyền thống của Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas Life cho biết, MB có chiều sâu về hệ sinh thái với hệ thống các sản phẩm.

Bên cạnh đó, MB cũng xây dựng và đào tạo đội ngũ nhân sự mang tính chất chuyên nghiệp, toàn thời gian, do đó, không có quá trình chuyển dịch giữa các kênh phân phối hoặc chuyển dịch ở mức độ thấp hơn so với mặt bằng chung của thị trường, từ đó sẽ giữ được sự ổn định cho hệ thống.

Bên cạnh những nhà băng đang nỗ lực giành lại đà tăng trưởng, tính chung 9 tháng, có 4 ngân hàng sụt giảm khoản thu từ hoạt động bảo hiểm. Trong đó, giảm sâu nhất là VIB giảm gần 50% cùng kỳ, PGBank và LPBank giảm tương ứng 45% và 28%, TPBank giảm nhẹ 0,2%.

Cùng với đó, dù tăng trưởng mạnh mẽ 9 tháng năm 2024 song so với thời kỳ thăng hoa trước biến cố, nhiều ngân hàng vẫn chưa thoát khỏi khó khăn hoàn toàn. Chẳng hạn, Kienlongbank tăng trưởng thu nhập từ bảo hiểm đạt mức cao nhất gần 74%, thu về gần 40 tỷ đồng nhưng so với cùng kỳ năm 2022, tăng trưởng từ mảng bảo hiểm vẫn đi lùi 16%.

Trong 9 tháng 2024, thu từ phí dịch vụ bảo hiểm mang về cho Techcombank 594 tỷ đồng, tăng trưởng 30% cùng kỳ song nhà băng này vẫn chưa thoát khỏi dư âm hậu khủng hoảng khi vẫn sụt giảm 40% cùng kỳ năm 2022. Tại SeABank, doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 87,5 tỷ đồng, tăng 14% cùng kỳ, cao hơn con số 77 tỷ đồng nhưng so với cùng kỳ năm 2022 thì vẫn tụt dốc 67%.

Kênh phân phối bảo hiểm quan trọng giúp gia tăng nguồn thu cho các ngân hàng

Theo báo cáo của The Business Research Company, quy mô thị trường bán bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tăng từ 1.290,19 tỷ USD (năm 2023) lên 1.382,35 tỷ USD (năm 2024) và lên tới 1.830,09 tỷ USD vào năm 2028, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là 7,3%. Nhu cầu bảo hiểm ngày càng tăng do sự gia tăng bất ổn, rủi ro trong cuộc sống hiện đại liên quan đến các vấn đề về sức khỏe, thiên tai, bất ổn kinh tế và giá trị ngày càng tăng của tài sản cá nhân và doanh nghiệp. Nhu cầu bảo hiểm này dự kiến tiếp tục tăng sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường bancassurance trong tương lai.

Tại Việt Nam, hình thức này đã và đang phát triển và dần trở thành kênh phân phối bảo hiểm quan trọng giúp gia tăng nguồn thu cho các ngân hàng. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phối hợp với các đối tác ngân hàng thương mại cung cấp sản phẩm bảo hiểm bán trực tuyến trên trang web của ngân hàng, chủ yếu là các sản phẩm bảo hiểm mang tính bảo vệ như: sản phẩm bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm chăm sóc phụ nữ, bảo hiểm bệnh lý nghiêm trọng, bảo hiểm bệnh ung thư... Hoạt động Bancassurance bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam chuyển biến một cách tích cực, giúp khách hàng có cơ hội tiếp cận bảo hiểm nhanh chóng hơn, nhiều trải nghiệm công nghệ cao và chuyên nghiệp hơn.

Theo thống kê, tỷ trọng phí khai thác mới qua kênh bancassurance chiếm khoảng 20% tổng doanh thu phí của thị trường bảo hiểm nhân thọ và khoảng 14% tổng doanh thu phí của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, công tác quản lý và giám sát chất lượng dịch vụ bán bảo hiểm qua kênh ngân hàng chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng nhanh, nóng qua kênh bancassurance. Những khó khăn suốt hai năm vừa qua cũng tạo sức ép mạnh mẽ giúp thị trường thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.

Theo nhìn nhận của lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), một thay đổi tích cực được ghi nhận là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nghiêm túc thực hiện và rà soát tổng thể quy trình bán hàng, thẩm định, quy trình dịch vụ khách hàng bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tăng cường các biện pháp giám sát chất lượng tư vấn bảo hiểm của nhân viên tổ chức tín dụng; chấn chỉnh công tác thẩm định cấp hợp đồng bảo hiểm; rốt ráo rà soát toàn bộ công tác đào tạo đại lý bảo hiểm.

Cùng với đó, cơ sở pháp lý của thị trường bảo hiểm cơ bản được hoàn thiện để tạo chuyển biến mới trên thị trường như: Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Các tổ chức tín dụng và các nghị định, thông tư được sửa đổi đồng bộ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép về niềm tin và khai thác mới, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang đẩy mạnh ra mắt sản phẩm mới theo hướng đơn giản hơn, thiết thực hơn và sát nhu cầu bảo vệ tài chính của khách hàng, qua đó kỳ vọng mở rộng tệp khách hàng và hỗ trợ thị trường phục hồi bền vững trong thời gian tới.
Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 3/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.203 đồng. Cùng xu hướng, trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,05% còn 100,8 điểm, mất mốc 101 khi dữ liệu việc làm tại Mỹ kém tích cực, qua đó, làm giảm áp lực để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.
Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Theo tổng hợp từ bảo hiểm xã hội các địa phương, chỉ trong ngày cao điểm kỷ niệm Ngày Bảo hiểm y tế (1/7), toàn hệ thống đã huy động nhiều nguồn lực xã hội để trao tặng hàng nghìn sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho người dân có hoàn cảnh khó khăn.
Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người bệnh khám, chữa bệnh ngoại trú tại 518 cơ sở y tế cấp cơ bản và chuyên sâu, trong đó có nhiều bệnh viện trước đây là tuyến trung ương và tuyến tỉnh sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 50% mức hưởng, góp phần giảm gánh nặng chi phí và tạo thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

(TBTCO) - Tận hưởng ưu đãi hoàn tiền tới 1.000.000 VND khi mở mới và chi tiêu qua thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard trong tháng 7/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Kim TT/AVPL 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Nguyên Liệu 99.99 13,600 ▲300K 13,800 ▲300K
Nguyên Liệu 99.9 13,550 ▲300K 13,750 ▲300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 ▲300K 14,600 ▲300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 ▲300K 14,550 ▲300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 ▲300K 14,530 ▲300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
NL 99.90 13,050 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲100K
Trang sức 99.9 14,290 ▲300K 14,990 ▲300K
Trang sức 99.99 14,300 ▲300K 15,000 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 ▲30K 15,142 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 ▲30K 15,143 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 ▲30K 1,513 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 ▲30K 1,498 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 ▲2970K 148,317 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 ▲2250K 112,511 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 ▲2040K 102,024 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 ▲1830K 91,537 ▲1830K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 ▲1749K 87,492 ▲1749K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 ▲1251K 62,623 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cập nhật: 03/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17716 17989 18564
CAD 18034 18309 18922
CHF 32124 32506 33153
CNY 0 3837 3930
EUR 29471 29692 30770
GBP 34333 34724 35666
HKD 0 3222 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14718 15306
SGD 19826 20108 20674
THB 708 771 824
USD (1,2) 26029 0 0
USD (5,10,20) 26070 0 0
USD (50,100) 26099 26113 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,463
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 29,555 29,579 30,964
JPY 158.64 158.93 168.38
GBP 34,478 34,571 35,734
AUD 17,871 17,936 18,605
CAD 18,191 18,249 18,907
CHF 32,320 32,421 33,354
SGD 19,934 19,996 20,762
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,285 3,295 3,430
KRW 15.7 16.37 17.8
THB 756.2 765.54 818.93
NZD 14,659 14,795 15,220
SEK - 2,672 2,765
DKK - 3,954 4,090
NOK - 2,627 2,718
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,038.65 - 6,813.02
TWD 743.9 - 900.43
SAR - 6,884.65 7,245.38
KWD - 83,107 88,352
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26463
AUD 17869 17969 18894
CAD 18193 18293 19307
CHF 32324 32354 33945
CNY 3817.7 3842.7 3978.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29620 29650 31375
GBP 34616 34666 36424
HKD 0 3355 0
JPY 159.57 160.07 170.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14801 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19981 20111 20832
THB 0 737.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,124 26,174 26,463
USD20 26,124 26,174 26,463
USD1 26,124 26,174 26,463
AUD 17,938 18,038 19,142
EUR 29,775 29,775 31,184
CAD 18,153 18,253 19,557
SGD 20,056 20,206 20,762
JPY 160.09 161.59 166.14
GBP 34,516 34,866 35,741
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80