Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử bất chấp FED hạ lãi suất nhiều lần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mức giá bán USD được niêm yết bởi các ngân hàng ngày 19/12 tiếp tục phá vỡ kỷ lục khi cao kịch trần 25.519 VND/USD. Việc FED dự kiến hãm phanh tốc độ hạ lãi suất, với mức giảm lãi suất ít hơn, chậm hơn và lưỡng lự hơn trong năm 2025 khiến chỉ số DXY bật tăng cao nhất trong vòng 2 năm qua, kéo theo áp lực lên tỷ giá dâng cao.
aa
Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét Ngân hàng UOB dự báo sức ép tỷ giá và tăng trưởng kinh tế năm 2025 Chuyên gia dự đoán tỷ giá vơi dần áp lực, về mức 25.000 VND/USD cuối năm

Ngày 19/12, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết tỷ giá trung tâm tăng mạnh 26 đồng, lên mức 24.304 VND/USD. Áp dụng biên độ 5%, tỷ giá trần hôm nay là 25.519 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.089 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hiện là 23.400 - 25.450 VND/USD (mua vào - bán ra).

Giá bán USD tại các ngân hàng lập đỉnh

Tại các ngân hàng thương mại, Vietcombank niêm yết tỷ giá bán USD ở mức cao kịch trần lên 25.519 VND/USD, vượt mức đỉnh thiết lập ngày 15/11 (25.512 VND/USD). Ở chiều mua vào, giá USD niêm yết ở mức 25.189 VND/USD. So với giá niêm yết phiên hôm qua, tỷ giá USD tại Vietcombank tăng 28 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Còn BIDV niêm yết tỷ giá USD hôm nay ở mức 25.219 - 25.519 VND/USD (mua vào - bán ra), cũng mức tăng 28 đồng ở cả hai chiều so với chốt phiên hôm qua.

Chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt tăng cao nhất trong vòng 2 năm qua, vượt mốc 108 điểm sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất lần thứ ba liên tiếp trong năm nay, với mức giảm 25 điểm cơ bản, đưa lãi suất cho vay qua đêm về ngưỡng 4,25 - 4,5%. Như vậy, lãi suất mới nhất của Fed giảm tới 100 điểm cơ bản so với tháng 9, thời điểm FED bắt đầu nới lỏng chính sách tiền tệ.

Tuy nhiên, thị trường quan tâm nhiều hơn đến lộ trình điều chỉnh lãi suất trong năm 2025. Thông điệp giới chức FED truyền đi là sẽ giảm lãi suất ít hơn và chậm hơn trong tương lai, đặc biệt là vào năm 2025, khi chỉ hạ lãi suất hai lần với mức giảm tổng cộng 50 điểm cơ bản, thay vì giảm 100 điểm cơ bản trong dự báo đưa ra hồi tháng 9.

Ngay sau đó, thị trường chứng khoán Mỹ đỏ lửa, chỉ số Dow Jones giảm 1.123,03 điểm, tương đương 2,58%, Bitcoin có thời điểm giảm 5.000 USD, đánh mất mốc 100.000 USD khi sức mạnh đồng USD bật tăng.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về nguyên nhân khiến đồng USD tăng gây rung chuyển nhiều thị trường sau cuộc họp Fed, TS. Nguyễn Quốc Việt - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng, mặc dù FED cắt giảm lãi suất vào đợt cuối cùng năm 2024 song rõ ràng, chính các nhà tạo lập chính sách tiền tệ cũng không chắc chắn về nền kinh tế Hoa Kỳ, đặc biệt trong năm 2025 và có những mâu thuẫn nội bộ về mục tiêu cắt giảm lãi suất. Nhiều nhân tố cho thấy kinh tế Hoa Kỳ vẫn mạnh và lạm phát có thể quay trở lại trong năm 2025, từ đó, dẫn đến gián đoạn kịch bản nới lỏng tiền tệ và cắt giảm lãi suất.

Điều này trái với nhiều dự báo trước đây là đến cuối năm 2025, FED có thể cắt giảm lãi suất về dưới 3%. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, FED chỉ có thể cắt giảm 2 lần nữa trong năm 2025 và mỗi một lần chỉ 25 điểm cơ bản, tức lãi suất của FED không giảm mạnh.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu có động thái cắt giảm mạnh về lãi suất và tiếp tục sẽ cắt giảm mạnh lãi suất năm 2025. Tương tự, Trung Quốc, một đối thủ cạnh tranh về kinh tế với Hoa Kỳ, vì tình trạng giảm phát đeo bám dai dẳng cũng như trì trệ của nền kinh tế đã tung các gói kích thích kinh tế khổng lồ và có thể sẽ duy trì lãi suất thấp.

Như vậy, trong mối tương quan lãi suất với các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, chênh lệch lãi suất giữa Hoa Kỳ và các quốc gia vẫn ở mức cao. Chính điều này khiến giới đầu cơ đặt kỳ vọng đồng USD mạnh, thực tế cho thấy dù có lúc trồi sụt nhưng chỉ số DXY có xu hướng tăng lên.

Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử bất chấp FED hạ lãi suất nhiều lần
Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử, áp lực tỷ giá dâng cao.

Cùng với đó, nền chính trị - kinh tế thế giới dự kiến sẽ chịu nhiều ảnh hưởng khi Tổng thống Donald Trump cầm quyền.

Dự định tăng thuế, đánh mạnh vào hàng hoá nhập khẩu, đặc biệt với Trung Quốc cũng là một nhân tố không chắc chắn và khiến giới đầu cơ đổ tiền vào các tài sản phòng thủ, trong đó có vàng và USD.

Chưa kể trong tháng vừa qua, ông Donald Trump có động thái cảnh cáo các quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi - khối BRICS khi muốn thoát ly, tránh phụ thuộc vào USD. Điều này cho các nhà đầu cơ e ngại và có tâm lý phòng thủ bằng cách đầu cơ vào đồng USD.

Theo dõi phản ứng khi đồng USD mạnh lên

Về phía trong nước, có nhiều nhân tố khiến tỷ giá căng thẳng. TS. Nguyễn Quốc Việt phân tích, xu thế tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, trong khi đó, nhu cầu nước ngoài tăng, trong bối cảnh Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) vẫn duy trì tích cực trong giai đoạn cuối năm. Điều đó dẫn đến nhu cầu nhập khẩu cao để đáp ứng các đơn hàng.

"Có thể thấy, đơn hàng tương đối dồi dào ít nhất đến hết quý 1/2025. Khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng và qua theo dõi của VEPR, trên 93% giá trị nhập khẩu để phục vụ chế biến, chế tạo, xuất khẩu, đương nhiên sẽ tạo cầu đồng USD lớn để mua hàng hóa nhập khẩu. Đúng thời điểm đồng USD tăng giá tạo nên nhu cầu “kép” và gây áp lực lên đồng nội tệ" - lãnh đạo VEPR đánh giá.

Một yếu tố khác không kém phần quan trọng đó là giá vàng cũng tăng lên đáng kể từ đầu năm đến nay, tương ứng hai năm tăng giá liên tiếp. Ảnh hưởng của giá vàng quốc tế, nhu cầu tiêu thụ và đầu tư vàng trong nước cũng kéo theo áp lực lên tỷ giá ngoại tệ, nhất với đồng USD.

Đồng thời, xu hướng rút ròng các dòng vốn vẫn tiếp diễn, đặc biệt từ các quỹ nước ngoài hay một số dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên sàn chứng khoán. Từ đó, tạo chênh lệch trong cán cân thanh toán quốc tế (BOP) ở cấu phần đầu tư.

Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng, Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính) cho rằng, việc Fed dự kiến giảm lãi suất ít hơn và chậm hơn trong năm 2025 là do kinh tế Mỹ vẫn mạnh, đồng thời lạm phát chưa giảm như kỳ vọng. Điều này khiến DXY tăng và tạo sức ép lên tỷ giá USD/VND.

"Trong bối cảnh các nước châu Âu, Trung Quốc tăng trưởng chậm, việc FED chậm giảm lãi suất có thể khiến USD tiếp tục tăng giá trong ngắn hạn" - ông Độ nói.

Để đối phó với sức ép lên tỷ giá USD/VND hiện nay, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, NHNN có thể sẽ giữ lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chính sách ở mức cao như những đợt trước. Nếu sức ép lớn thì cho thể bán USD hay phát hành tín phiếu. "Tuy nhiên, vẫn cần theo dõi thêm vì phản ứng mạnh hiện nay có thể chỉ mang tính tức thời" - ông Độ khuyến nghị./.

Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử bất chấp FED hạ lãi suất nhiều lần
TS. Nguyễn Quốc Việt - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR).

Lưỡng lự giảm lãi suất vì ẩn số mới

"Nhiều người nghĩ rằng khi Fed cắt giảm lãi suất tác động ngay lập tức giúp hạ nhiệt đồng USD. Tuy nhiên, không phải vậy, vì có yếu tố mới phát sinh cũng như những yếu tố không đạt kỳ vọng cùng nhiều ẩn số liên quan đến địa chính trị.

Vấn đề là việc cắt giảm lãi suất trong cả chu kỳ 2024-2025 của FED khá lưỡng lượng và kỳ vọng cắt giảm mạnh vào cuối năm 2025 không xảy ra, dự kiến chỉ có 2 lần cắt giảm, mỗi lần chỉ 25 điểm cơ bản và sẽ khó đưa lãi suất của Mỹ về thấp hơn khi so sánh với các quốc gia đang cắt giảm mạnh lãi suất như tại Châu Âu hay duy trì lãi suất thấp như Trung Quốc.

Thị thường kỳ vọng năm 2024 có nhiều thời điểm phải cắt giảm lãi suất đến 50 điểm cơ bản nhưng cơ bản, các lần cắt giảm lãi suất đều rất do dự và nhỏ giọt, chỉ 25 điểm cơ bản"./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 5,93 USD/ounce lên mức 4.035,7 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500.000 - 1 triệu đồng/lượng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua kế hoạch rót thêm tối đa 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life, nâng vốn điều lệ lên 4.300 tỷ đồng, qua đó đưa doanh nghiệp vào nhóm bảo hiểm nhân thọ có vốn lớn trên thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Techcom Life đang tăng tốc mạnh ở mảng khai thác mới.
MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

(TBTCO) - Ngân hàng MB chốt ngày 10/7 là ngày đăng ký cuối cùng nhận cổ tức tiền mặt 10%, với tổng giá trị chi trả khoảng 8.055 tỷ đồng. Song song, ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn lớn, hướng tới vốn điều lệ hơn 102.687 tỷ đồng và bứt tốc nhiều chỉ tiêu năm nay.
Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

(TBTCO) - Bà Nguyễn Thị Hằng đã được trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Tân Tổng Giám đốc cam kết kế thừa thành quả của các thế hệ lãnh đạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và mở rộng tiếp cận vốn cho người nghèo.
Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

(TBTCO) - Diễn ra từ ngày 1/7 đến 30/9/2026 với hơn 5.000 ưu đãi, chương trình “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm” được Bảo hiểm Bảo Việt triển khai như một phần trong nỗ lực thúc đẩy văn hóa chủ động bảo vệ tài chính - gia đình.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17610 17882 18455
CAD 17988 18263 18880
CHF 31903 32284 32927
CNY 0 3834 3927
EUR 29340 29561 30636
GBP 34213 34603 35535
HKD 0 3221 3423
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15212
SGD 19781 20062 20628
THB 705 768 822
USD (1,2) 26027 0 0
USD (5,10,20) 26068 0 0
USD (50,100) 26097 26111 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26465
AUD 17784 17884 18807
CAD 18146 18246 19260
CHF 32096 32126 33716
CNY 3814.4 3839.4 3974.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31233
GBP 34428 34478 36246
HKD 0 3355 0
JPY 158.24 158.74 169.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14730 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,128 26,178 26,465
USD20 26,128 26,178 26,465
USD1 23,946 26,178 26,465
AUD 17,830 17,930 19,037
EUR 29,667 29,667 31,075
CAD 18,098 18,198 19,501
SGD 19,987 20,137 20,691
JPY 158.62 160.12 164.67
GBP 34,247 34,597 35,600
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80