Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử bất chấp FED hạ lãi suất nhiều lần

(TBTCO) - Mức giá bán USD được niêm yết bởi các ngân hàng ngày 19/12 tiếp tục phá vỡ kỷ lục khi cao kịch trần 25.519 VND/USD. Việc FED dự kiến hãm phanh tốc độ hạ lãi suất, với mức giảm lãi suất ít hơn, chậm hơn và lưỡng lự hơn trong năm 2025 khiến chỉ số DXY bật tăng cao nhất trong vòng 2 năm qua, kéo theo áp lực lên tỷ giá dâng cao.
aa
Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét Ngân hàng UOB dự báo sức ép tỷ giá và tăng trưởng kinh tế năm 2025 Chuyên gia dự đoán tỷ giá vơi dần áp lực, về mức 25.000 VND/USD cuối năm

Ngày 19/12, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết tỷ giá trung tâm tăng mạnh 26 đồng, lên mức 24.304 VND/USD. Áp dụng biên độ 5%, tỷ giá trần hôm nay là 25.519 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.089 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hiện là 23.400 - 25.450 VND/USD (mua vào - bán ra).

Giá bán USD tại các ngân hàng lập đỉnh

Tại các ngân hàng thương mại, Vietcombank niêm yết tỷ giá bán USD ở mức cao kịch trần lên 25.519 VND/USD, vượt mức đỉnh thiết lập ngày 15/11 (25.512 VND/USD). Ở chiều mua vào, giá USD niêm yết ở mức 25.189 VND/USD. So với giá niêm yết phiên hôm qua, tỷ giá USD tại Vietcombank tăng 28 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Còn BIDV niêm yết tỷ giá USD hôm nay ở mức 25.219 - 25.519 VND/USD (mua vào - bán ra), cũng mức tăng 28 đồng ở cả hai chiều so với chốt phiên hôm qua.

Chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt tăng cao nhất trong vòng 2 năm qua, vượt mốc 108 điểm sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất lần thứ ba liên tiếp trong năm nay, với mức giảm 25 điểm cơ bản, đưa lãi suất cho vay qua đêm về ngưỡng 4,25 - 4,5%. Như vậy, lãi suất mới nhất của Fed giảm tới 100 điểm cơ bản so với tháng 9, thời điểm FED bắt đầu nới lỏng chính sách tiền tệ.

Tuy nhiên, thị trường quan tâm nhiều hơn đến lộ trình điều chỉnh lãi suất trong năm 2025. Thông điệp giới chức FED truyền đi là sẽ giảm lãi suất ít hơn và chậm hơn trong tương lai, đặc biệt là vào năm 2025, khi chỉ hạ lãi suất hai lần với mức giảm tổng cộng 50 điểm cơ bản, thay vì giảm 100 điểm cơ bản trong dự báo đưa ra hồi tháng 9.

Ngay sau đó, thị trường chứng khoán Mỹ đỏ lửa, chỉ số Dow Jones giảm 1.123,03 điểm, tương đương 2,58%, Bitcoin có thời điểm giảm 5.000 USD, đánh mất mốc 100.000 USD khi sức mạnh đồng USD bật tăng.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về nguyên nhân khiến đồng USD tăng gây rung chuyển nhiều thị trường sau cuộc họp Fed, TS. Nguyễn Quốc Việt - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng, mặc dù FED cắt giảm lãi suất vào đợt cuối cùng năm 2024 song rõ ràng, chính các nhà tạo lập chính sách tiền tệ cũng không chắc chắn về nền kinh tế Hoa Kỳ, đặc biệt trong năm 2025 và có những mâu thuẫn nội bộ về mục tiêu cắt giảm lãi suất. Nhiều nhân tố cho thấy kinh tế Hoa Kỳ vẫn mạnh và lạm phát có thể quay trở lại trong năm 2025, từ đó, dẫn đến gián đoạn kịch bản nới lỏng tiền tệ và cắt giảm lãi suất.

Điều này trái với nhiều dự báo trước đây là đến cuối năm 2025, FED có thể cắt giảm lãi suất về dưới 3%. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, FED chỉ có thể cắt giảm 2 lần nữa trong năm 2025 và mỗi một lần chỉ 25 điểm cơ bản, tức lãi suất của FED không giảm mạnh.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu có động thái cắt giảm mạnh về lãi suất và tiếp tục sẽ cắt giảm mạnh lãi suất năm 2025. Tương tự, Trung Quốc, một đối thủ cạnh tranh về kinh tế với Hoa Kỳ, vì tình trạng giảm phát đeo bám dai dẳng cũng như trì trệ của nền kinh tế đã tung các gói kích thích kinh tế khổng lồ và có thể sẽ duy trì lãi suất thấp.

Như vậy, trong mối tương quan lãi suất với các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, chênh lệch lãi suất giữa Hoa Kỳ và các quốc gia vẫn ở mức cao. Chính điều này khiến giới đầu cơ đặt kỳ vọng đồng USD mạnh, thực tế cho thấy dù có lúc trồi sụt nhưng chỉ số DXY có xu hướng tăng lên.

Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử bất chấp FED hạ lãi suất nhiều lần
Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử, áp lực tỷ giá dâng cao.

Cùng với đó, nền chính trị - kinh tế thế giới dự kiến sẽ chịu nhiều ảnh hưởng khi Tổng thống Donald Trump cầm quyền.

Dự định tăng thuế, đánh mạnh vào hàng hoá nhập khẩu, đặc biệt với Trung Quốc cũng là một nhân tố không chắc chắn và khiến giới đầu cơ đổ tiền vào các tài sản phòng thủ, trong đó có vàng và USD.

Chưa kể trong tháng vừa qua, ông Donald Trump có động thái cảnh cáo các quốc gia thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi - khối BRICS khi muốn thoát ly, tránh phụ thuộc vào USD. Điều này cho các nhà đầu cơ e ngại và có tâm lý phòng thủ bằng cách đầu cơ vào đồng USD.

Theo dõi phản ứng khi đồng USD mạnh lên

Về phía trong nước, có nhiều nhân tố khiến tỷ giá căng thẳng. TS. Nguyễn Quốc Việt phân tích, xu thế tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, trong khi đó, nhu cầu nước ngoài tăng, trong bối cảnh Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) vẫn duy trì tích cực trong giai đoạn cuối năm. Điều đó dẫn đến nhu cầu nhập khẩu cao để đáp ứng các đơn hàng.

"Có thể thấy, đơn hàng tương đối dồi dào ít nhất đến hết quý 1/2025. Khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng và qua theo dõi của VEPR, trên 93% giá trị nhập khẩu để phục vụ chế biến, chế tạo, xuất khẩu, đương nhiên sẽ tạo cầu đồng USD lớn để mua hàng hóa nhập khẩu. Đúng thời điểm đồng USD tăng giá tạo nên nhu cầu “kép” và gây áp lực lên đồng nội tệ" - lãnh đạo VEPR đánh giá.

Một yếu tố khác không kém phần quan trọng đó là giá vàng cũng tăng lên đáng kể từ đầu năm đến nay, tương ứng hai năm tăng giá liên tiếp. Ảnh hưởng của giá vàng quốc tế, nhu cầu tiêu thụ và đầu tư vàng trong nước cũng kéo theo áp lực lên tỷ giá ngoại tệ, nhất với đồng USD.

Đồng thời, xu hướng rút ròng các dòng vốn vẫn tiếp diễn, đặc biệt từ các quỹ nước ngoài hay một số dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên sàn chứng khoán. Từ đó, tạo chênh lệch trong cán cân thanh toán quốc tế (BOP) ở cấu phần đầu tư.

Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng, Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính) cho rằng, việc Fed dự kiến giảm lãi suất ít hơn và chậm hơn trong năm 2025 là do kinh tế Mỹ vẫn mạnh, đồng thời lạm phát chưa giảm như kỳ vọng. Điều này khiến DXY tăng và tạo sức ép lên tỷ giá USD/VND.

"Trong bối cảnh các nước châu Âu, Trung Quốc tăng trưởng chậm, việc FED chậm giảm lãi suất có thể khiến USD tiếp tục tăng giá trong ngắn hạn" - ông Độ nói.

Để đối phó với sức ép lên tỷ giá USD/VND hiện nay, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, NHNN có thể sẽ giữ lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chính sách ở mức cao như những đợt trước. Nếu sức ép lớn thì cho thể bán USD hay phát hành tín phiếu. "Tuy nhiên, vẫn cần theo dõi thêm vì phản ứng mạnh hiện nay có thể chỉ mang tính tức thời" - ông Độ khuyến nghị./.

Giá USD ngân hàng lập đỉnh lịch sử bất chấp FED hạ lãi suất nhiều lần
TS. Nguyễn Quốc Việt - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR).

Lưỡng lự giảm lãi suất vì ẩn số mới

"Nhiều người nghĩ rằng khi Fed cắt giảm lãi suất tác động ngay lập tức giúp hạ nhiệt đồng USD. Tuy nhiên, không phải vậy, vì có yếu tố mới phát sinh cũng như những yếu tố không đạt kỳ vọng cùng nhiều ẩn số liên quan đến địa chính trị.

Vấn đề là việc cắt giảm lãi suất trong cả chu kỳ 2024-2025 của FED khá lưỡng lượng và kỳ vọng cắt giảm mạnh vào cuối năm 2025 không xảy ra, dự kiến chỉ có 2 lần cắt giảm, mỗi lần chỉ 25 điểm cơ bản và sẽ khó đưa lãi suất của Mỹ về thấp hơn khi so sánh với các quốc gia đang cắt giảm mạnh lãi suất như tại Châu Âu hay duy trì lãi suất thấp như Trung Quốc.

Thị thường kỳ vọng năm 2024 có nhiều thời điểm phải cắt giảm lãi suất đến 50 điểm cơ bản nhưng cơ bản, các lần cắt giảm lãi suất đều rất do dự và nhỏ giọt, chỉ 25 điểm cơ bản"./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
NL 99.99 13,250 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼50K
Trang sức 99.9 13,600 ▼60K 14,200 ▼60K
Trang sức 99.99 13,610 ▼60K 14,210 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17592 17865 18440
CAD 17682 17956 18571
CHF 30601 30977 31613
CNY 0 3834 3929
EUR 28597 28814 29889
GBP 33618 34006 34937
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14834
SGD 19789 20071 20639
THB 689 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26172
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25810 26170
AUD 17770 17870 18793
CAD 17868 17968 18982
CHF 30842 30872 32472
CNY 3816.4 3841.4 3976.5
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28703 28733 30458
GBP 33848 33898 35659
HKD 0 3315 0
JPY 160.92 161.42 171.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14349 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19934 20064 20786
THB 0 716.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,699 25,819 26,190
USD20 25,669 25,819 26,190
USD1 25,649 25,819 26,190
AUD 17,796 17,896 19,003
EUR 28,471 28,571 30,229
CAD 17,797 17,897 19,203
SGD 20,005 20,155 21,340
JPY 161.26 162.76 168.33
GBP 33,726 33,876 35,260
XAU 13,988,000 0 14,292,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 752 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/10/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30