Giảm số năm đóng bảo hiểm xã hội giúp nhiều người có cơ hội nhận lương hưu

Thảo Miên
(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn của TBTCVN, ông Robert Palacios - Chuyên gia kinh tế trưởng, Ban An sinh xã hội (Ngân hàng Thế giới Khu vực Đông Á - Thái Bình Dương) cho rằng, việc giảm số năm tham gia tối thiểu bảo hiểm xã hội bắt buộc để đủ điều kiện nhận lương hưu xuống còn 15 năm như đề xuất trong dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi phù hợp với hợp hơn với kinh nghiệm quốc tế. Điều này giúp có thêm nhiều người lao động có cơ hội nhận lương hưu hơn.
aa

PV: Tại dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi, cơ quan soạn thảo đề xuất giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm, nhằm tạo cơ hội cho những người tham gia muộn, hoặc tham gia không liên tục dẫn đến số năm đóng thấp. Ông đánh giá thế nào về đề xuất này?

Ông Robert Palacios
Ông Robert Palacios

Ông Robert Palacios: Việc giảm số năm tham gia tối thiểu để đủ điều kiện nhận lương hưu, được gọi là quy tắc trao quyền, sẽ giúp nhiều người lao động có cơ hội nhận lương hưu hơn. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho những người lao động có quá trình tham gia BHXH bị gián đoạn, hoặc những người tham gia muộn.

Điều chỉnh thời gian đóng cũng sẽ giúp cho nhiều người có cơ hội nhận lương hưu, nhất là từ khu vực tư nhân. Chẳng hạn, năm 2019 có 11,3 triệu lao động từ khu vực tư nhân tham gia BHXH bắt buộc, nhưng số người hưởng hưu trí từ khu vực này chỉ là 177.000 người.

Hầu hết những người hưởng hưu trí từ Quỹ BHXH là những người từ khu vực công, vì họ đáp ứng quy định thời gian đóng tối thiểu là 20 năm. Do đó, sẽ có nhiều người hưu trí hơn từ khu vực tư nhân với việc giảm thời gian tham gia BHXH tối thiểu để được nhận lương hưu xuống còn 15 năm như trong đề xuất tại dự thảo Luật BHXH sửa đổi. Quy định 15 năm cũng là tương đối phù hợp hơn với kinh nghiệm quốc tế. Các nước OECD thường có xu hướng quy định thời gian đóng BHXH từ 10 -15 năm.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là số tiền chi trả lương hưu cao hơn so với số tiền chi trả trợ cấp một lần, do đó, việc giảm số năm đóng đồng nghĩa với việc mức chi từ Quỹ BHXH sẽ nhiều hơn. Vì mức lương hưu từ trong chế độ BHXH cũng được tính trên cơ sở theo số năm đóng góp (vì đây là chế độ phúc lợi xác định), nên một người có 15 năm công tác khi nghỉ về hưu sẽ được hưởng mức lương hưu thấp hơn so với những người có 20 năm công tác.

Cần lưu ý rằng, 15 năm là số năm đóng góp tối thiểu. Cần tăng cường công tác truyền thông để khuyến khích người tham gia tiếp tục đóng góp để được hưởng mức lương hưu cao hơn.

Điều chỉnh thời gian đóng bảo hiểm xã hội giúp cho nhiều người có cơ hội nhận lương hưu.
Điều chỉnh thời gian đóng bảo hiểm xã hội giúp cho nhiều người có cơ hội nhận lương hưu.

PV: Có ý kiến cho rằng, nếu giảm năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu thì cũng phải giảm tuổi hưu. Luật nên quy định số năm đóng bao nhiêu thì cho mức hưởng tương ứng, không nên quy định tuổi hưu, như vậy sẽ hạn chế lượng người rút BHXH một lần. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Ông Robert Palacios: Theo quan điểm của chúng tôi, mặc dù việc giảm số năm đóng tối thiểu sẽ giúp việc nhận lương hưu dễ dàng hơn, nhưng cần lưu ý rằng các tính toán phải dựa trên cơ sở tính bền vững về tài chính của quỹ, nhất là trong bối cảnh tuổi thọ của người Việt Nam ngày càng tăng. Quyết định của Chính phủ về việc tăng tuổi hưu đối với phụ nữ và nam giới lên 60 và 62 tuổi là một biện pháp quan trọng giúp đạt được sự bền vững tài chính của quỹ.

Đối với các đề xuất nhằm giảm tình trạng nhận BHXH một lần, vì không có quốc gia nào có quy định tương tự, nên không có nhiều kinh nghiệm để Việt Nam có thể học hỏi. Ở Việt Nam, hầu hết những người nhận BHXH một lần là phụ nữ trẻ mới lập gia đình và những người đang đối mặt với tình trạng mất việc làm với triển vọng tìm việc thấp.

Chúng tôi cho rằng, để việc giải quyết những vấn đề đó hiệu quả, cần áp dụng thêm các giải pháp khác, bao gồm trợ cấp thai sản đang được đề xuất trong dự thảo và các giải pháp hỗ trợ tìm việc làm nguồn hỗ trợ khác có thể hữu ích. Tuy nhiên, việc cho phép nhận BHXH một lần hiện tại tiếp tục đe dọa tương lai của người lao động khi họ có thể không được nhận lương hưu khi về già.

Về ý kiến trên, giả dụ, chúng ta đưa ra một chương trình cho phép người dân được hưởng lương nghỉ hưu với 25 năm đóng góp, hoặc khi đến tuổi nghỉ hưu. Một thiết kế như vậy sẽ dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng và làm cho chương trình trở nên méo mó. Theo chương trình này, một người nam giới bắt đầu đóng BHXH năm 25 tuổi có thể nghỉ hưu sớm nhất là ở độ tuổi 50.

Tại Việt Nam, tuổi thọ bình quân của nam giới là 77,4 năm đồng nghĩa với việc khi nghỉ hưu lúc 50 tuổi, người này sẽ nhận lương hưu trong 27,4 năm. Như vậy, Quỹ BHXH sẽ trả lương hưu cho cá nhân người này lâu hơn tổng số khoảng thời gian người đó họ đã đóng góp, lâu hơn nhiều so với một người bắt đầu đóng ở tuổi 30 và có cùng mức đóng góp, số năm đóng góp. Điều này có thể rất tốn kém cho chương trình trừ khi các yếu tố nghỉ hưu sớm công bằng được đưa vào công thức tính lương hưu và điều chỉnh thường xuyên.

Hầu hết các quốc gia OECD đã đưa ra quy định giảm mức lương hưu tương đối khi nghỉ hưu sớm, song mức giảm cần phải được điều chỉnh kịp thời để đảm bảo tính bền vững của quỹ và công bằng với những người nghỉ hưu muộn.

PV: Từ kinh nghiệm của các nước thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội trên thế giới, ông có khuyến nghị gì cho chính sách BHXH bắt buộc, để nâng cao diện bao phủ BHXH, hướng tới BHXH toàn dân?

Hiểu đầy đủ khái niệm về độ bao phủ bảo hiểm xã hội

Theo ông Robert Palacios, cần hiểu đầy đủ khái niệm về độ bao phủ bảo hiểm xã hội (BHXH). Mức độ bao phủ ở đây không chỉ là bao phủ về việc tham gia đóng góp BHXH mà còn là bao phủ với người hưởng lương hưu. Tính toàn diện của chương trình BHXH cũng rất quan trọng - nếu người dân sử dụng hệ thống lương hưu để đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn (như đã thấy từ tình trạng lao động mất việc làm rút BHXH một lần ồ ạt như vừa qua), thì việc tăng độ bao phủ của những người hưởng lương hưu sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Ông Robert Palacios: Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi chưa thấy quốc gia nào có cùng mức thu nhập như Việt Nam đạt được mức độ bao phủ cao (tỷ lệ người lao động trong độ tuổi tham gia BHXH) nếu chỉ tập trung vào chương trình BHXH bắt buộc. Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy, các biện pháp nhằm tăng tính tuân thủ cũng chỉ đạt được kết quả khiêm tốn trong khi tính phi chính thức là vấn đề toàn cầu và vượt ra ngoài chương trình BHXH bắt buộc.

Một số ít quốc gia có thu nhập thấp hoặc trung bình đạt được tỷ lệ bao phủ cao (Trung Quốc, Colombia, Hàn Quốc) đã làm được như vậy thông qua các chương trình BHXH tự nguyện, được trợ cấp cao từ ngân sách nhà nước vì họ nhận thức rất rõ những thách thức mà người lao động trong khu vực phi chính thức phải đối mặt. Chiến lược này đã được áp dụng khi thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân ở các nước châu Á trong đó có Việt Nam.

Mở rộng diện bao phủ của chương trình BHXH bắt buộc và tự nguyện là quan trọng, nhưng sẽ không mang lại mức lương hưu thỏa đáng cho tất cả mọi người. Đầu tiên, những người đã già hoặc sắp già không có đủ thời gian tham gia đóng góp để hưởng lương hưu khi về già.

Thứ hai, sẽ luôn có những khoảng trống về độ bao phủ BHXH chừng nào vẫn còn những hộ gia đình không đủ khả năng đóng góp, vì ngân sách hộ gia đình chỉ đủ chi trả cho các khoản đầu tư cho sức khỏe hoặc giáo dục. Trong những trường hợp này, trợ giúp xã hội và trong trường hợp của Việt Nam là lương hưu xã hội sẽ phải được mở rộng và lồng ghép với cơ chế đóng BHXH theo cách khuyến khích những người có khả năng có thể tham gia tiết kiệm được.

Chúng tôi vui mừng nhận thấy rằng, dự thảo Luật BHXH sửa đổi hiện tại áp dụng cách tiếp cận theo cả hai hướng này và sẽ mở rộng diện bao phủ của cả chương trình BHXH bắt buộc và tự nguyện. Chúng tôi cũng đã phân tích chi phí của những đề xuất cải cách này và thấy rằng nó khả thi.

Báo cáo gần đây của Ngân hàng thế giới về chi tiêu công của Việt Nam đưa ra các khuyến nghị cụ thể, có thể sử dụng ngân sách công để thực hiện các cải cách trong chương trình BHXH, có thể tài trợ cho những cải cách mà không làm tăng thêm gánh nặng tài chính tổng thể.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thảo Miên

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (18/5): USD tự do bật tăng, DXY giữ sức mạnh khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/5): USD tự do bật tăng, DXY giữ sức mạnh khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 18/5, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.131 đồng. Trong khi USD tự do lên quanh 26.480 - 26.530 VND/USD, tăng mạnh 120 - 140 đồng hai chiều. Chỉ số DXY giao dịch quanh 99 điểm, ở mức cao trong 5 tuần gần đây, khi nhà đầu tư ngày càng lo ngại áp lực lạm phát tại Mỹ gia tăng, khiến khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▲100K 15,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▲100K 15,150 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,000 ▼50K 16,300 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,000 ▼50K 16,300 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,000 ▼50K 16,300 ▼50K
NL 99.90 14,550 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼250K
Trang sức 99.9 15,490 ▼50K 16,190 ▼50K
Trang sức 99.99 15,500 ▼50K 16,200 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 18/05/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19149
CAD 18640 18918 19534
CHF 32895 33280 33924
CNY 0 3832 3924
EUR 30033 30306 31331
GBP 34391 34782 35712
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15100 15685
SGD 20049 20332 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26387
AUD 18455 18555 19482
CAD 18816 18916 19927
CHF 33097 33127 34710
CNY 3807.5 3832.5 3968
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30184 30214 31940
GBP 34522 34542 36402
HKD 0 3355 0
JPY 162.22 162.72 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15191 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20195 20325 21047
THB 0 750.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16050000 16050000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80