Gỡ khó, khơi thông tín dụng ưu đãi hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển

Ánh Tuyết
Ngành ngân hàng triển khai nhiều chính sách, giải pháp tín dụng hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển, góp phần bảo vệ ngư trường truyền thống. Tính đến cuối tháng ​10/2024, dư nợ đối với lĩnh vực thủy sản đạt 253.877 tỷ đồng, tăng 7,46% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, còn nhiều khó khăn, vướng mắc khi cho vay lĩnh vực này.
aa
Thêm gói tín dụng lâm, thủy sản, góp gió nhỏ thành gió lớn Agribank dẫn đầu giải ngân chương trình tín dụng ưu đãi lâm, thủy sản Nắn dòng tín dụng đi đúng hướng, dồn vốn vào những ngành trọng điểm

Cử tri tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phản ánh, hiện nay ngư dân nước ta khai thác hải sản tại quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa bị tàu nước ngoài tấn công, xua đuổi. Vì vậy, cử tri kiến nghị cần có chính sách hỗ trợ đối với ngư dân vươn khơi, bám biển, góp phần bảo vệ ngư trường truyền thống, bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Đồng thời, cử tri đề nghị Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) cần tăng cường lực lượng cảnh sát biển, hải quân để bảo vệ vùng biển của Việt Nam, bảo vệ ngư dân trong quá trình khai thác hải sản, góp phần bảo vệ quyền và chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Những cơ chế ưu đãi

Phản hồi kiến nghị cử tri, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho biết, thời gian qua, ngành ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển, góp phần bảo vệ ngư trường truyền thống, bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Cho vay lãi suất ưu đãi 4%/năm

Về lãi suất vay vốn, NHNN đã có chính sách trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, bao gồm cả cho vay đối với ngư dân, hiện nay là 4,0%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến các tổ chức tín dụng áp dụng đối với khách hàng.

Cụ thể, về chính sách tín dụng, NHNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018 sửa đổi bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP với các cơ chế ưu đãi đối với khách hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có nông dân.

Điển hình như khách hàng được vay không tài sản bảo đảm, cơ chế xử lý rủi ro đặc thù thông qua cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, khoanh nợ, giảm lãi suất khi mua bảo hiểm trong nông nghiệp…

Gỡ khó, khơi thông tín dụng ưu đãi hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển
Gỡ khó, khơi thông tín dụng ưu đãi hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển. Ảnh tư liệu.

Bên cạnh đó, NHNN đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Trong đó có một số nội dung liên quan đến ngành ngân hàng như: cơ chế xử lý rủi ro, cơ chế chuyển nhượng tàu, chính sách hỗ trợ bảo hiểm. Hiện Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ để hoàn thiện dự thảo Nghị định.

Nút thắt trong hỗ trợ tín dụng lĩnh vực thuỷ sản

Mặc dù đạt kết quả tích cực, song NHNN đánh giá đầu tư tín dụng đối với lĩnh vực thủy sản (bao gồm cả ngư dân khai thác hải sản xa bờ) còn gặp một số khó khăn, vướng mắc.

Số liệu NHNN cho thấy, đến cuối tháng ​10/2024, dư nợ đối với lĩnh vực thủy sản đạt 253.877 tỷ đồng, tăng 7,46% so với cuối năm 2023. Trong đó, dư nợ cho vay khai thác, nuôi trồng thủy sản (bao gồm cả nuôi trồng trên biển) đạt trên 108.000 tỷ đồng, tăng 6% so với cuối năm 2023, chiếm 42,5% tổng dư nợ cho vay thủy sản.

"Đặc thù lĩnh vực này còn tiềm ẩn rủi ro, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, trong khi các biện pháp, công cụ phòng ngừa để hạn chế rủi ro chưa phát huy hiệu quả" - NHNN chỉ rõ.

Cùng với đó, việc triển khai chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP chưa hiệu quả, phát sinh nợ xấu do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan; bản thân ngư dân chưa xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi, chưa chứng minh được tài chính và khả năng trả nợ dẫn tới khó khăn cho tổ chức tín dụng trong quyết định cấp tín dụng.

Nhiều cơ chế tín dụng ưu đãi hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển
Dư nợ đối với lĩnh vực thủy sản đến cuối tháng 10/2024 đạt trên 250 nghìn tỷ đồng. Ảnh tư liệu.

Do đó, bên cạnh các giải pháp của NHNN, ngành ngân hàng, để tiếp tục hỗ trợ ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển và xử lý được những tồn tại, vướng mắc hiện nay, hỗ trợ ngư dân khai thác thủy sản có hiệu quả hơn, tạo nguồn thu trả nợ ngân hàng, NHNN cho rằng cần triển khai đồng bộ các giải pháp và thuộc trách nhiệm của nhiều bộ, ngành, địa phương.

Theo đó, cần rà soát lại nguồn lợi thủy sản, ngư trường, quy hoạch phát triển tàu cá, hướng dẫn ngư dân tổ chức lại sản xuất để phát triển bền vững.

Cùng với đó, đẩy mạnh triển khai có hiệu quả Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1664/QĐ-TTg ngày 4/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, bản thân ngư dân cũng cần xây dựng các phương án khả thi, hiệu quả, chứng minh được khả năng trả nợ, đáp ứng các điều kiện vay vốn để các tổ chức tín dụng có cơ sở thẩm định, quyết định cho vay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80