Kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ ở mức 14% trong năm 2022

Thái Duy
(TBTCO) - SSI Research kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ ở mức 14% trong năm 2022 - tương đồng với mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra. Chính sách tiền tệ nới lỏng tiếp tục được theo đuổi, tập trung vào gói hỗ trợ lãi suất và mục tiêu có thể cắt giảm lãi suất cho vay tối thiểu 0,5% - 1% trong 2 năm.
aa

Lãi suất sẽ biến động khó lường hơn khi vào cao điểm trước tết

Trong tuần đầu năm 2022, nghiệp vụ thị trường mở và mua ngoại tệ giao ngay đều không phát sinh giao dịch mới. Thanh khoản trong hệ thống đã phần nào ổn định trở lại hơn sau 2 tuần gặp nhiều căng thẳng.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt khi kỳ hạn qua đêm kết thúc tuần tuần đầu của năm mới xuống còn 1,16% (giảm 41 điểm cơ bản). Các kỳ hạn còn lại giảm 12 – 20 điểm cơ bản, dao động trong khoảng 1,55% đến 2,29%.

Theo các chuyên gia của SSI Research, diễn biến lãi suất thị trường 2 được dự báo sẽ gặp nhiều biến động khó lường trong tháng 1, khi thị trường bước vào giai đoạn cao điểm trước Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, bên cạnh viêc hỗ trợ thông qua hoạt động thị trường mở (OMO), Ngân hàng Nhà nước có thể bơm thanh khoản gián tiếp thông qua hoạt động mua ngoại tệ, khi đây là tháng cao điểm kiều hối dồn về tạo cung ngoại tệ lớn.

Kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ ở mức 14% trong năm 2022

Kết quả cuộc điều tra xu hướng tín dụng của các tổ chức tín dụng tháng 12/2021 cho thấy các tổ chức này kỳ vọng nhu cầu tín dụng tiếp tục cải thiện trong quý I/2022 và cả năm 2022, trong đó nhóm ngành chế biến chế tạo, kinh doanh xuất nhập khẩu, mua nhà để ở, sản xuất phân phối điện và xây dựng là 5 lĩnh vực có nhu cầu vay tăng cao nhất trong năm 2022, phù hợp với kỳ vọng nền kinh tế phục hồi.

Các chuyên gia của SSI Research, kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ ở mức 14% trong năm 2022 - tương đồng với mức mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra. “Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách tiền tệ nới lỏng, tập trung vào gói hỗ trợ lãi suất và mục tiêu có thể cắt giảm lãi suất cho vay tối thiểu 0,5% - 1% trong 2 năm” – chuyên gia của SSI Research dự báo.

Tỷ giá USD/VND vẫn giảm nhiệt vào đầu năm

Tâm điểm thị trường tài chính trong tuần đầu năm mới 2022 là biên bản cuộc họp tháng 12 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), với thông điệp mang hàm ý chính sách tiền tệ thắt chặt hơn. Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng thêm 25 điểm cơ bản, kết tuần đầu năm ở 1,76% - mức cao nhất kể từ sau dịch bệnh xuất hiện.

Theo thông tin từ SSI Research, đồng USD cũng đã bật tăng mạnh sau thông báo của FED, trước khi giảm nhiệt trở lại vào phiên giao dịch ngày 7/1 trước thông tin không mấy tích cực về thị trường lao động Mỹ. Các đồng tiền chủ chốt hầu như di ngang trong tuần, trong khi đồng tiền các quốc gia mới nổi giảm mạnh như RUB -1,44%, THB -0,75%, MYR -1,02%,…

Kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ ở mức 14% trong năm 2022

Tại Việt Nam, trái ngược với diễn biến mất giá của các đồng tiền mới nổi, trong tuần đầu năm, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng và niêm yết tại các ngân hàng thương mại tiếp tục ghi nhận xu hướng giảm, khi chỉ còn VND 22.706 đồng/USD, giảm 0,53% so với tuần trước. Tỷ giá niêm yết tại VCB là VND 22.560/22.870 đồng (mua vào/bán ra), giảm 50 đồng ở chiều mua vào bán ra. Như vậy, trong giai đoạn đầu của năm mới 2022, đồng VND gần như đã quay trở lại mức trước tháng 12.

Ngược lại, tỷ giá trên thị trường tự do tăng nhẹ 20 đồng trong tuần đầu năm, kết tuần ở 23.490/VND 23.530 đồng.

Theo nhận định của các chuyên gia SSI Research, về cơ bản, đồng VND vẫn cho thấy sức mạnh của mình thông qua nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam vẫn duy trì tích cực. Cán cân thương mại ước tính thặng dư khoảng 4,0 tỷ USD trong năm 2021, trong khi giải ngân FDI đạt 19.7 tỷ USD./

Thái Duy

Đọc thêm

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Kim TT/AVPL 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲160K 15,450 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲160K 15,400 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲160K 16,450 ▲160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲160K 16,400 ▲160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲160K 16,380 ▲160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NL 99.90 14,950 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▲150K
Trang sức 99.9 15,790 ▲100K 16,490 ▲100K
Trang sức 99.99 15,800 ▲100K 16,500 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 06/05/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18514 18791 19367
CAD 18829 19107 19721
CHF 33037 33423 34068
CNY 0 3820 3913
EUR 30235 30509 31537
GBP 34962 35355 36282
HKD 0 3228 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15340 15925
SGD 20145 20428 20953
THB 727 790 844
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26147 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26368
AUD 18718 18818 19752
CAD 19019 19119 20134
CHF 33326 33356 34939
CNY 3800.8 3825.8 3961.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30432 30462 32187
GBP 35265 35315 37068
HKD 0 3355 0
JPY 164.82 165.32 175.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15462 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20311 20441 21171
THB 0 755.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/05/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80