Thị trường tiền tệ tuần 30.9 - 4.10:

Lãi suất huy động tăng chậm lại, giá vàng vẫn neo ở mức cao

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (30/9 - 4/10) là xu hướng tăng lãi suất tiền gửi tiếp tục chững lại. Trong tháng 9/2024, khi chỉ có một vài ngân hàng tăng lãi suất với mức tăng từ 0,1% - 0,5%, bước sang tháng 10, mặt bằng lãi suất của nhiều ngân hàng không thay đổi so với tháng trước. Trong khi đó, giá vàng tiếp tục neo ở mức cao kỷ lục còn tỷ giá ít biến động.
aa

Lãi suất huy động tăng chậm lại

Trong bối cảnh áp lực tỷ giá giảm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn đang tiếp tục tích cực hỗ trợ hệ thống ngân hàng nhằm hạ mặt bằng lãi suất liên ngân hàng (thị trường 2). Cụ thể, vào ngày 16/9, lãi suất kênh cho vay cầm cố (OMO) đã được NHNN cắt giảm lần thứ 2 trong năm nay, với mức giảm 25 điểm cơ bản xuống mức 4%.

Tính đến ngày 30/9, tổng giá trị tiền ròng NHNN bơm vào hệ thống ước khoảng 128,2 nghìn tỷ đồng, với mức lãi suất 4 - 4,25%/năm, kỳ hạn 7 ngày, trong đó bao gồm 22 nghìn tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Bên cạnh đó, NHNN cũng đã chủ động dừng phát hành tín phiếu kể từ cuối tháng 8/2024. Ngoài ra, trong bối cảnh tỷ giá ổn định, Kho bạc Nhà nước đã phát đi thông báo về nhu cầu mua ngoại tệ từ các ngân hàng thương mại với khối lượng dự kiến tối đa là 350 triệu USD trong tháng này. Động thái này sẽ giúp tăng thanh khoản hệ thống thêm khoảng 5,8 nghìn tỷ đồng.

Lãi suất huy động tăng chậm lại, giá vàng vẫn neo ở mức cao
Mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng ổn định cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang khá dồi dào. Ảnh: T.L

Lãi suất qua đêm duy trì quanh mức 4,3% vào hồi đầu tháng 9/2024 đã giảm mạnh về mức 3% - mức thấp nhất trong 2 tháng trở lại đây và đột ngột tăng vọt lên mức 4,3% trong tuần cuối cùng của tháng, sau đó lại tiếp tục điều chỉnh giảm trong những ngày đầu tháng 10/2024 (trong phiên giao dịch ngày 3/10, lãi suất qua đêm giảm xuống còn 4,0%/năm).

Thống kê cho thấy, đến cuối tháng 9/2024, lãi suất huy động trung bình 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đã tăng 13 điểm cơ bản so với đầu năm lên mức 5,0%/năm; trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước vẫn giữ nguyên ở mức 4,7%/năm, thấp hơn 26 điểm cơ bản so với đầu năm.

Xu hướng tăng lãi suất tiền gửi tiếp tục chững lại trong tháng 9/2024, khi chỉ có một vài ngân hàng tăng lãi suất với mức tăng từ 0,1% - 0,5%. Bước sang tháng 10, mặt bằng lãi suất của nhiều ngân hàng không thay đổi so với tháng trước. Mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng ổn định cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang khá dồi dào.

Sự phục hồi của tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm, sẽ phần nào gây áp lực lên thanh khoản hệ thống và có thể dẫn đến việc tăng lãi suất đầu vào. Ở chiều ngược lại, việc lạm phát ở mức thấp và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

Liên quan đến chính sách tiền tệ trong thời gian tới, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, với tốc độ và xu hướng chung của nền kinh tế, đặc biệt là so với trước kia, tình hình tín dụng khởi sắc dần. Đến ngày 17/9/2024, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 7,38% so với cuối năm 2023 (cùng kỳ đạt 5,73%).

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước tin rằng, có khả năng đạt được 15% tăng trưởng tín dụng và mục tiêu tăng trưởng 15% là con số định hướng trong điều hành, không phải con số áp đặt, quan trọng nhất là làm sao tập trung tăng trưởng chất lượng, tức mở rộng đầu tư để góp phần tăng trưởng nền kinh tế, trong đó đã có các biện pháp để từng bước hạ lãi suất cho vay, chia sẻ khó khăn với khách hàng.

Giá vàng tiếp tục neo ở mức cao

Vàng miếng SJC tuần qua đã tăng 500 nghìn đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 4/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 84 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 82 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn sau một thời gian tăng liên tục đã có dấu hiệu chững lại nhưng vẫn neo ở mức cao. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 4/10, tại DOJI, giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 82,85 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 83,60 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 82,7 - 83,6 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 82,68 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,58 triệu đồng/lượng.

Lãi suất huy động tăng chậm lại, giá vàng vẫn neo ở mức cao
Giá vàng tiếp tục neo ở mức cao. Ảnh: T.L

Trong hai tuần trở lại đây, giá vàng thế giới liên tiếp lập kỷ lục, tăng tới 160 USD, tức gần 7%. Giá vàng nhẫn trong nước cũng đi lên với tốc độ tương đương, tăng thêm 4 triệu đồng một lượng. Dự báo về giá vàng thời gian tới, nhiều chuyên gia cho rằng kim loại quý đang trong chu kỳ tăng tuy nhiên, vàng vẫn có thể đối diện với các đợt điều chỉnh ngắn hạn.

Tỷ giá biến động nhẹ

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 30/9 ghi nhận ở mức 24.118 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm liên tục trong 2 ngày thứ Ba và thứ Tư, sau đó tăng nhẹ vào ngày thứ Năm và hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.115 đồng/USD, giảm 3 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 24.760 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục giảm tỷ giá bán ra trong hôm thứ 3, nhưng sau đó tăng liên tục trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 24.920 đồng/USD, tăng 160 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Tỷ giá USD niêm yết tại các ngân hàng trong nước tuần qua ít biến động trong bối cảnh tỷ giá cũng liên tục giảm trong những tuần gần đây.

Việc đảo chiều chính sách tiền tệ của FED đã giúp vơi bớt áp lực lên tỷ giá hối đoái. So với đầu tháng 9, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng đã giảm 1,3% xuống mức 24,564 VND/USD vào ngày 30/9. Như vậy, đồng VND hiện chỉ mất giá khoảng 0,9% so với đồng USD tính từ đầu năm, thấp hơn nhiều so với mức đỉnh gần 5% được ghi nhận vào tháng 6/2024./.

Chỉ số DXY tăng nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu giảm nhẹ trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 4/10 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 101,87 điểm, tăng nhẹ so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,400 ▼1000K 143,400 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,040 ▼100K 14,340 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,040 ▼100K 14,340 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,040 ▼100K 14,340 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,990 ▼100K 14,390 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,990 ▼100K 14,390 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,990 ▼100K 14,390 ▼100K
NL 99.99 13,500 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▼50K
Trang sức 99.9 13,700 ▼100K 14,300 ▼100K
Trang sức 99.99 13,710 ▼100K 14,310 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,404 ▼10K 14,342 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,404 ▼10K 14,343 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,399 ▼10K 1,429 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,399 ▼10K 143 ▼1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,374 ▼10K 1,419 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,495 ▼990K 140,495 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,786 ▼750K 106,586 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,852 ▼680K 96,652 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,918 ▼610K 86,718 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,086 ▼583K 82,886 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,528 ▼417K 59,328 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▼10K 1,434 ▼10K
Cập nhật: 28/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17694 17967 18549
CAD 17808 18082 18700
CHF 30641 31017 31667
CNY 0 3824 3919
EUR 28924 29142 30222
GBP 33562 33950 34894
HKD 0 3179 3381
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14400 14990
SGD 19767 20048 20616
THB 689 752 805
USD (1,2) 25697 0 0
USD (5,10,20) 25736 0 0
USD (50,100) 25764 25778 26145
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,767 25,767 26,147
USD(1-2-5) 24,737 - -
USD(10-20) 24,737 - -
EUR 28,980 29,003 30,377
JPY 160.02 160.31 170.02
GBP 33,753 33,844 35,029
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 17,996 18,054 18,719
CHF 30,909 31,005 31,927
SGD 19,887 19,949 20,731
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,242 3,252 3,388
KRW 17.61 18.37 19.99
THB 737.4 746.51 799.32
NZD 14,393 14,527 14,958
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,887 4,024
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.13 - 6,703.76
TWD 737.46 - 893.48
SAR - 6,795.01 7,157.81
KWD - 82,072 87,334
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25770 25770 26140
AUD 17877 17977 18908
CAD 17988 18088 19102
CHF 30896 30926 32508
CNY 3805.3 3830.3 3965.4
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33868 33918 35686
HKD 0 3315 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14513 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19928 20058 20781
THB 0 718.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14040000 14040000 14340000
SBJ 13000000 13000000 14340000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,670 25,790 26,180
USD20 25,640 25,790 26,180
USD1 25,633 25,790 26,180
AUD 17,892 18,042 19,181
EUR 28,866 29,016 30,717
CAD 17,903 18,053 19,382
SGD 19,965 20,165 20,751
JPY 161.38 162.88 168.64
GBP 33,703 33,903 35,027
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30