Thị trường tiền tệ tuần 30.9 - 4.10:

Lãi suất huy động tăng chậm lại, giá vàng vẫn neo ở mức cao

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (30/9 - 4/10) là xu hướng tăng lãi suất tiền gửi tiếp tục chững lại. Trong tháng 9/2024, khi chỉ có một vài ngân hàng tăng lãi suất với mức tăng từ 0,1% - 0,5%, bước sang tháng 10, mặt bằng lãi suất của nhiều ngân hàng không thay đổi so với tháng trước. Trong khi đó, giá vàng tiếp tục neo ở mức cao kỷ lục còn tỷ giá ít biến động.
aa

Lãi suất huy động tăng chậm lại

Trong bối cảnh áp lực tỷ giá giảm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn đang tiếp tục tích cực hỗ trợ hệ thống ngân hàng nhằm hạ mặt bằng lãi suất liên ngân hàng (thị trường 2). Cụ thể, vào ngày 16/9, lãi suất kênh cho vay cầm cố (OMO) đã được NHNN cắt giảm lần thứ 2 trong năm nay, với mức giảm 25 điểm cơ bản xuống mức 4%.

Tính đến ngày 30/9, tổng giá trị tiền ròng NHNN bơm vào hệ thống ước khoảng 128,2 nghìn tỷ đồng, với mức lãi suất 4 - 4,25%/năm, kỳ hạn 7 ngày, trong đó bao gồm 22 nghìn tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Bên cạnh đó, NHNN cũng đã chủ động dừng phát hành tín phiếu kể từ cuối tháng 8/2024. Ngoài ra, trong bối cảnh tỷ giá ổn định, Kho bạc Nhà nước đã phát đi thông báo về nhu cầu mua ngoại tệ từ các ngân hàng thương mại với khối lượng dự kiến tối đa là 350 triệu USD trong tháng này. Động thái này sẽ giúp tăng thanh khoản hệ thống thêm khoảng 5,8 nghìn tỷ đồng.

Lãi suất huy động tăng chậm lại, giá vàng vẫn neo ở mức cao
Mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng ổn định cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang khá dồi dào. Ảnh: T.L

Lãi suất qua đêm duy trì quanh mức 4,3% vào hồi đầu tháng 9/2024 đã giảm mạnh về mức 3% - mức thấp nhất trong 2 tháng trở lại đây và đột ngột tăng vọt lên mức 4,3% trong tuần cuối cùng của tháng, sau đó lại tiếp tục điều chỉnh giảm trong những ngày đầu tháng 10/2024 (trong phiên giao dịch ngày 3/10, lãi suất qua đêm giảm xuống còn 4,0%/năm).

Thống kê cho thấy, đến cuối tháng 9/2024, lãi suất huy động trung bình 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đã tăng 13 điểm cơ bản so với đầu năm lên mức 5,0%/năm; trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước vẫn giữ nguyên ở mức 4,7%/năm, thấp hơn 26 điểm cơ bản so với đầu năm.

Xu hướng tăng lãi suất tiền gửi tiếp tục chững lại trong tháng 9/2024, khi chỉ có một vài ngân hàng tăng lãi suất với mức tăng từ 0,1% - 0,5%. Bước sang tháng 10, mặt bằng lãi suất của nhiều ngân hàng không thay đổi so với tháng trước. Mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng ổn định cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang khá dồi dào.

Sự phục hồi của tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm, sẽ phần nào gây áp lực lên thanh khoản hệ thống và có thể dẫn đến việc tăng lãi suất đầu vào. Ở chiều ngược lại, việc lạm phát ở mức thấp và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

Liên quan đến chính sách tiền tệ trong thời gian tới, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, với tốc độ và xu hướng chung của nền kinh tế, đặc biệt là so với trước kia, tình hình tín dụng khởi sắc dần. Đến ngày 17/9/2024, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 7,38% so với cuối năm 2023 (cùng kỳ đạt 5,73%).

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước tin rằng, có khả năng đạt được 15% tăng trưởng tín dụng và mục tiêu tăng trưởng 15% là con số định hướng trong điều hành, không phải con số áp đặt, quan trọng nhất là làm sao tập trung tăng trưởng chất lượng, tức mở rộng đầu tư để góp phần tăng trưởng nền kinh tế, trong đó đã có các biện pháp để từng bước hạ lãi suất cho vay, chia sẻ khó khăn với khách hàng.

Giá vàng tiếp tục neo ở mức cao

Vàng miếng SJC tuần qua đã tăng 500 nghìn đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 4/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 84 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 82 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn sau một thời gian tăng liên tục đã có dấu hiệu chững lại nhưng vẫn neo ở mức cao. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 4/10, tại DOJI, giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 82,85 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 83,60 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 82,7 - 83,6 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 82,68 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,58 triệu đồng/lượng.

Lãi suất huy động tăng chậm lại, giá vàng vẫn neo ở mức cao
Giá vàng tiếp tục neo ở mức cao. Ảnh: T.L

Trong hai tuần trở lại đây, giá vàng thế giới liên tiếp lập kỷ lục, tăng tới 160 USD, tức gần 7%. Giá vàng nhẫn trong nước cũng đi lên với tốc độ tương đương, tăng thêm 4 triệu đồng một lượng. Dự báo về giá vàng thời gian tới, nhiều chuyên gia cho rằng kim loại quý đang trong chu kỳ tăng tuy nhiên, vàng vẫn có thể đối diện với các đợt điều chỉnh ngắn hạn.

Tỷ giá biến động nhẹ

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 30/9 ghi nhận ở mức 24.118 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm liên tục trong 2 ngày thứ Ba và thứ Tư, sau đó tăng nhẹ vào ngày thứ Năm và hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.115 đồng/USD, giảm 3 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 24.760 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục giảm tỷ giá bán ra trong hôm thứ 3, nhưng sau đó tăng liên tục trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 24.920 đồng/USD, tăng 160 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Tỷ giá USD niêm yết tại các ngân hàng trong nước tuần qua ít biến động trong bối cảnh tỷ giá cũng liên tục giảm trong những tuần gần đây.

Việc đảo chiều chính sách tiền tệ của FED đã giúp vơi bớt áp lực lên tỷ giá hối đoái. So với đầu tháng 9, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng đã giảm 1,3% xuống mức 24,564 VND/USD vào ngày 30/9. Như vậy, đồng VND hiện chỉ mất giá khoảng 0,9% so với đồng USD tính từ đầu năm, thấp hơn nhiều so với mức đỉnh gần 5% được ghi nhận vào tháng 6/2024./.

Chỉ số DXY tăng nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu giảm nhẹ trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 4/10 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 101,87 điểm, tăng nhẹ so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Tái bảo hiểm VINARE phấn đấu nhiều chỉ tiêu tăng hai chữ số, lãi 560 tỷ đồng

Năm 2026, VINARE đặt mục tiêu doanh thu, trong đó gồm doanh thu phí bảo hiểm, đạt 4.266 tỷ đồng, tăng 10,2%; lợi nhuận trước thuế 560 tỷ đồng, tăng 10,3% và duy trì cổ tức tiền mặt 10%. Trước đó, dù chịu tác động từ thiên tai diễn biến phức tạp, doanh nghiệp vẫn hoàn thành vượt kế hoạch kinh doanh năm 2025.
Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Kim TT/AVPL 17,430 ▲230K 17,730 ▲230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,420 ▲230K 17,720 ▲230K
Nguyên Liệu 99.99 16,050 ▲100K 16,250 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 16,000 ▲100K 16,200 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,000 ▲100K 17,300 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,950 ▲100K 17,250 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,880 ▲100K 17,230 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Hà Nội - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Đà Nẵng - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Miền Tây - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Tây Nguyên - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 174,200 ▲2300K 177,200 ▲2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,500 ▲310K 17,800 ▲310K
Miếng SJC Nghệ An 17,500 ▲310K 17,800 ▲310K
Miếng SJC Thái Bình 17,500 ▲310K 17,800 ▲310K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,470 ▲300K 17,770 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,470 ▲300K 17,770 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,470 ▲300K 17,770 ▲300K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,960 ▲300K 17,660 ▲300K
Trang sức 99.99 16,970 ▲300K 17,670 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,742 ▲23K 17,722 ▲230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,742 ▲23K 17,723 ▲230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 174 ▼1543K 177 ▼1570K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 174 ▼1543K 1,771 ▲23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 172 ▼1525K 1,755 ▲23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 167,262 ▲2277K 173,762 ▲2277K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,888 ▲1725K 131,788 ▲1725K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,602 ▲1564K 119,502 ▲1564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,316 ▲1403K 107,216 ▲1403K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,577 ▲1341K 102,477 ▲1341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,441 ▲959K 73,341 ▲959K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,742 ▲23K 1,772 ▲23K
Cập nhật: 01/04/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17641 17914 18500
CAD 18403 18680 19297
CHF 32357 32740 33388
CNY 0 3470 3830
EUR 29821 30093 31124
GBP 34051 34441 35375
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14788 15373
SGD 19938 20220 20747
THB 720 783 836
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,927 29,951 31,190
JPY 161.19 161.48 170.17
GBP 34,218 34,311 35,280
AUD 17,890 17,955 18,520
CAD 18,581 18,641 19,207
CHF 32,607 32,708 33,467
SGD 20,055 20,117 20,788
CNY - 3,781 3,899
HKD 3,291 3,301 3,418
KRW 16.09 16.78 18.14
THB 769.62 779.13 830.09
NZD 14,806 14,943 15,293
SEK - 2,736 2,816
DKK - 4,005 4,121
NOK - 2,673 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,099.75 - 6,845.57
TWD 744.5 - 896.39
SAR - 6,895.21 7,219.58
KWD - 83,477 88,275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26360
AUD 17860 17960 18885
CAD 18596 18696 19707
CHF 32627 32657 34231
CNY 3765.9 3790.9 3926.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30015 30045 31772
GBP 34366 34416 36177
HKD 0 3355 0
JPY 162.44 162.94 173.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14918 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20108 20238 20971
THB 0 749.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17500000 17500000 17800000
SBJ 16000000 16000000 17800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,360
USD20 26,165 26,215 26,360
USD1 23,850 26,215 26,360
AUD 17,911 18,011 19,132
EUR 30,138 30,138 31,569
CAD 18,537 18,637 19,952
SGD 20,180 20,330 20,907
JPY 162.78 164.28 168.95
GBP 34,231 34,581 35,470
XAU 17,498,000 0 17,802,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80