Lãi suất huy động và cho vay sẽ không thuận chiều trong năm 2022

Thái Duy
(TBTCO) - Năm 2022, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước vẫn sẽ giữ nguyên các loại lãi suất điều hành, không có thay đổi trong kịch bản cơ sở và tăng trưởng tín dụng mục tiêu đạt 14%. Lãi suất huy động nhiều khả năng sẽ nhích tăng nhẹ, trong khi đó, lãi suất cho vay đi ngang, hoặc chỉ giảm dưới chương trình cấp bù lãi suất.
aa

Lãi suất liên ngân hàng tăng trong khi lãi suất huy động ổn định trong năm 2021

Nhìn lại chính sách tiền tệ năm vừa qua, các chuyên gia của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) đánh giá, chính sách tiền tệ trong năm 2021 vẫn nhất quán với chính sách nới lỏng thận trọng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xuyên suốt từ thời điểm dịch mới bùng phát cho đến nay.

Cụ thể, các chính sách hỗ trợ của NHNN tính đến thời điểm hiện tại, tập trung chủ yếu ở 3 lần hạ lãi suất điều hành trong năm 2020, vẫn tương đối nhẹ nếu so với các nước trong khu vực và chủ yếu sử dụng nguồn lực từ các ngân hàng thương mại (NHTM), nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp gặp khó khăn có thể duy trì dòng tiền hoạt động.

Ngoài việc yêu cầu các NHTM tiếp tục hạ lãi suất cho vay, trong năm 2021, NHNN đã công bố Thông tư 14/2021/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 01 về cơ cấu nợ, giãn nợ, miễn giảm lãi phí cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Bên cạnh đó, việc nới room tín dụng cho các NHTM diễn ra trong hai quý cuối năm đã giúp tăng trưởng tín dụng năm 2021 đạt 12,68%.

Lãi suất huy động và cho vay sẽ không thuận chiều trong năm 2022

Các chuyên gia của KBSV cho biết thêm, xét cho cả năm 2021, lãi suất liên ngân hàng đã tăng lên mức nền mới, nhưng vẫn ở mức thấp nhờ trạng thái thanh khoản dồi dào. Riêng trong quý IV, lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh với lãi suất qua đêm, 1 tuần và 1 tháng tăng lần lượt 66 điểm cơ bản (bps), 73 bps và 81 bps so với thời điểm cuối quý kế trước. Tuy nhiên, điều này phản ánh trạng thái thanh khoản thiếu hụt cục bộ trong mùa cao điểm cuối năm.

Trong khi đó, lãi suất huy động duy trì ổn định và biến động trong biên độ hẹp. Riêng quý cuối năm 2021, mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng đi ngang tăng nhẹ ở các kỳ hạn ngắn (dưới 12 tháng). Dù vậy, “biên độ biến động là tương đối hẹp (<0,4%), cho thấy mặt bằng lãi suất huy động biến động ổn định, nhìn chung duy trì ở mức thấp” – chuyên gia của KBSV cho hay.

Lãi suất huy động có thể “nhích” tăng, song lãi suất cho vay sẽ đi ngang

Các chuyên gia của KBSV cho rằng, định hướng hỗ trợ chính sách tiền tệ của NHNN vẫn được duy trì trong năm 2022, tuy nhiên điều kiện khách quan không thuận lợi khi mà áp lực lạm phát là hiện hữu với kịch bản cơ sở lạm phát ở mức 3,8%. Do vậy, nhiều khả năng NHNN vẫn sẽ giữ nguyên các loại lãi suất điều hành, không có thay đổi trong kịch bản cơ sở và tăng trưởng tín dụng mục tiêu đạt 14%, tương đương mức tăng trong năm 2021.

Lãi suất huy động và cho vay sẽ không thuận chiều trong năm 2022

Các chuyên gia này đánh giá, mặt bằng lãi suất huy động, vốn đang ở mức thấp, nhiều khả năng sẽ nhích tăng trong năm 2022.

Có 3 nguyên nhân khiến lãi suất huy động tăng gồm: Lạm phát tăng trở lại khiến ngân hàng cần nâng lãi suất huy động để duy trì lãi thực dương đủ hấp dẫn để duy trì tính cạnh tranh; nhu cầu tín dụng phục hồi khi nền kinh tế mở cửa và chính sách tiền tệ thận trọng hơn của NHNN. “Mức tăng nhiều khả năng sẽ tương đối thấp (trên dưới 0,5%), tương ứng với kịch bản cơ sở lạm phát tăng 3,8%” - chuyên gia của KBSV dự báo.

Trong khi đó, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ duy trì ở mức nền như hiện tại và có thể giảm nhẹ ở một số ngành ưu tiên dưới tác động của gói hỗ trợ cấp bù lãi suất của Chính phủ. “Các ngân hàng cũng cần duy trì một mức thu nhập lãi thuần cao, để có dư địa tăng trích lập dự phòng khi các khoản nợ xấu do giãn cách xã hội dần bộc lộ trong thời gian tới” - chuyên gia của KBSV cho hay./

Thái Duy

Đọc thêm

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Hà Nội - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Miền Tây - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▲60K 14,680 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▲60K 14,680 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▲60K 14,680 ▲80K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,870 ▲80K 14,570 ▲80K
Trang sức 99.99 13,880 ▲80K 14,580 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1290K 14,702 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1290K 14,703 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,461 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cập nhật: 22/07/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17903 18177 18750
CAD 18133 18408 19021
CHF 31721 32102 32744
CNY 0 3848 3940
EUR 29379 29599 30677
GBP 34418 34809 35743
HKD 0 3227 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 15023 15611
SGD 19834 20115 20681
THB 695 758 811
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26145 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,507 29,531 30,939
JPY 156.94 157.22 166.7
GBP 34,601 34,695 35,891
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,318 18,377 19,054
CHF 31,989 32,088 33,024
SGD 19,956 20,018 20,800
CNY - 3,817 3,962
HKD 3,290 3,300 3,439
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 743.65 752.83 805.44
NZD 15,004 15,143 15,592
SEK - 2,666 2,761
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,688 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.86 - 6,784.43
TWD 734.98 - 890.28
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,260 88,579
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26505
AUD 18080 18180 19105
CAD 18310 18410 19424
CHF 31988 32018 33600
CNY 3830.5 3855.5 3991
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29566 29596 31321
GBP 34723 34773 36533
HKD 0 3355 0
JPY 157.85 158.35 168.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15134 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19995 20125 20847
THB 0 725 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,153 26,203 26,523
USD20 26,153 26,203 26,523
USD1 23,997 26,203 26,523
AUD 18,192 18,292 19,399
EUR 29,427 29,527 31,185
CAD 18,323 18,423 19,728
SGD 20,107 20,257 20,817
JPY 158.83 160.33 165.86
GBP 34,741 34,891 35,956
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80