Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn

Thu Hương
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lê Tiến Trung, Giảng viên Tài chính Ngân hàng, Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa cho rằng, chi phí vốn gia tăng đang ảnh hưởng đến kế hoạch phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trong khi khả năng huy động vốn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng tín dụng và năng lực trả nợ.
aa

PV: Thưa ông, lãi suất phát hành trái phiếu doanh nghiệp đang tăng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn cao. Theo ông, những yếu tố nào đang tác động chủ yếu đến mặt bằng lãi suất này?

Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn
Ông Lê Tiến Trung

Ông Lê Tiến Trung: Theo tôi, lãi suất phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) chịu tác động từ ba yếu tố: mặt bằng lãi suất thị trường, nhu cầu huy động vốn và rủi ro của tổ chức phát hành.

Trước hết, lãi suất huy động và cho vay ngân hàng ảnh hưởng đáng kể đến chi phí phát hành TPDN, do mối liên hệ giữa các kênh huy động vốn. Trong 9 tháng đầu năm 2026, lãi suất phát hành TPDN có xu hướng tăng, với mức bình quân cao hơn khoảng 2,5 điểm phần trăm so với vùng thấp của năm 2025. Tuy nhiên, sang tháng 10/2026, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã triển khai các biện pháp giảm lãi suất.

Theo đó, NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm đối với lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch mới có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tập trung giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Nếu thanh khoản thuận lợi, mặt bằng lãi suất giảm có thể hỗ trợ chi phí phát hành TPDN.

Trong khi đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp vẫn lớn để phục vụ sản xuất, kinh doanh, triển khai dự án và cơ cấu nợ. Nhu cầu tái cấp vốn có thể gia tăng khi lượng trái phiếu đáo hạn năm 2027 được dự báo ở mức cao. Nếu nhu cầu huy động vượt khả năng cung ứng, doanh nghiệp có thể phải nâng lãi suất để thu hút nhà đầu tư, qua đó hạn chế đà giảm của lãi suất phát hành.

Yếu tố cuối cùng là rủi ro tín dụng. Nhà đầu tư quan tâm đến tình hình tài chính, dòng tiền, mức độ vay nợ và lịch sử thanh toán của tổ chức phát hành. Doanh nghiệp có nền tảng tài chính vững, dòng tiền ổn định và công bố thông tin minh bạch thường có lợi thế về chi phí vốn; ngược lại, doanh nghiệp có rủi ro tín dụng cao có thể phải trả lãi suất lớn hơn.

Vì vậy, các biện pháp giảm lãi suất có thể hỗ trợ thị trường TPDN, nhưng tác động sẽ có độ trễ và khác nhau giữa các doanh nghiệp, tùy điều kiện thị trường và chất lượng tài chính.

Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn
Áp lực lãi suất khiến doanh nghiệp thận trọng hơn khi huy động vốn. Ảnh: Đức Thanh

PV: Khi chi phí huy động vốn gia tăng, doanh nghiệp có nhu cầu vốn trung và dài hạn chịu những sức ép gì? Theo ông, lãi suất ảnh hưởng thế nào đến hoạt động phát hành trái phiếu và kế hoạch huy động vốn?

Ông Lê Tiến Trung: Tác động của lãi suất thể hiện ở quy mô và thời điểm phát hành, hiệu quả sử dụng vốn cùng việc lựa chọn nguồn huy động.

Trước hết, chi phí vốn tăng khiến doanh nghiệp thận trọng hơn với các đợt phát hành mới. Trong quý III/2026, tổng giá trị TPDN phát hành đạt khoảng 179,4 nghìn tỷ đồng, giảm 26% so với quý trước nhưng vẫn tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2025. Diễn biến này phần nào phản ánh hoạt động phát hành chững lại trong bối cảnh lãi suất cao. Một số doanh nghiệp có thể lùi thời điểm phát hành, điều chỉnh quy mô hoặc chờ thị trường thuận lợi hơn.

Cùng với kế hoạch huy động vốn, lợi nhuận và dòng tiền cũng chịu tác động. Chẳng hạn, với khoản trái phiếu 1.000 tỷ đồng, khi lãi suất phát hành tăng từ 9% lên 11%/năm, doanh nghiệp phải trả thêm 20 tỷ đồng tiền lãi mỗi năm, giả định dư nợ không đổi. Chi phí này gây sức ép với dự án thu hồi vốn chậm hoặc biên lợi nhuận thấp. Vì vậy, doanh nghiệp có thể phải rà soát hiệu quả đầu tư, ưu tiên hoạt động sớm tạo dòng tiền và giãn những khoản đầu tư chưa cấp thiết.

Đồng thời, áp lực chi phí vốn đòi hỏi doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn huy động, kết hợp trái phiếu, tín dụng ngân hàng, vốn chủ sở hữu và dòng tiền kinh doanh. Việc lựa chọn cần dựa vào tổng chi phí, thời hạn sử dụng vốn, khả năng thanh toán, tránh dùng vốn ngắn hạn cho dự án dài hạn.

Trong bối cảnh đó, việc chủ động điều chỉnh kế hoạch tài chính, lựa chọn thời điểm phát hành và cân đối kỳ hạn nguồn vốn với mục đích sử dụng sẽ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động đầu tư, đồng thời hạn chế áp lực tài chính về trung và dài hạn.

PV: Bên cạnh biến động lãi suất chung, chi phí phát hành trái phiếu còn phân hóa giữa các nhóm ngành và doanh nghiệp. Theo ông, những yếu tố nào quyết định sự khác biệt này khi nhà đầu tư ngày càng chú trọng chất lượng tín dụng và khả năng trả nợ?

Ông Lê Tiến Trung: Theo tôi, chênh lệch lãi suất phát hành chủ yếu phản ánh rủi ro tín dụng. Doanh nghiệp có rủi ro cao thường phải trả lãi suất lớn hơn để thu hút nhà đầu tư, nhưng mức lãi suất còn phụ thuộc đặc điểm ngành và điều kiện phát hành.

Trong quý III/2026, lãi suất phát hành bình quân của nhóm ngân hàng khoảng 8,85%/năm, thấp hơn mức 12,5 - 13%/năm của nhóm bất động sản và doanh nghiệp ngoài ngân hàng. Chênh lệch này phần nào cho thấy cách nhìn nhận khác nhau về rủi ro giữa các nhóm tổ chức phát hành. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào ngành nghề để đánh giá chất lượng tín dụng, bởi ngay trong cùng ngành, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của mỗi doanh nghiệp cũng khác nhau.

Yếu tố then chốt là dòng tiền thực tế để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Doanh nghiệp có doanh thu và lợi nhuận tích cực vẫn có thể khó thanh toán nếu tiền chưa thu về kịp thời. Với doanh nghiệp bất động sản, nguồn trả nợ thường gắn với tiến độ dự án, hoạt động bán hàng và thu hồi vốn. Ngược lại, nguồn thu ổn định, dòng tiền kinh doanh tốt và lịch sử trả nợ đúng hạn tạo lợi thế khi thuyết phục nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, đòn bẩy tài chính lớn hoặc các khoản nợ tập trung đáo hạn trong thời gian ngắn có thể làm tăng mức lãi suất nhà đầu tư yêu cầu. Kỳ hạn trái phiếu, tài sản bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán và các cam kết bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư cũng có ảnh hưởng. Tuy nhiên, tài sản bảo đảm không loại bỏ hoàn toàn rủi ro, bởi khả năng thu hồi vốn phụ thuộc vào giá trị thực tế và tính pháp lý của tài sản khi xử lý.

Về dài hạn, lãi suất phản ánh đúng rủi ro của từng khoản đầu tư sẽ hỗ trợ nhà đầu tư ra quyết định, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp củng cố tài chính, minh bạch thông tin và giữ uy tín trả nợ.

PV: Xin cảm ơn ông!

Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Đan Nguyễn
Thu Hương

Đọc thêm

Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

(TBTCO) - Sau bước tiến về nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết và đổi mới cơ chế giao dịch. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lương Duy Phước – Giám đốc Phân tích, Công ty cổ phần Chứng khoán Kafi cho rằng, những cải cách về tổ chức thị trường, giao dịch và thanh toán cần được triển khai đồng bộ với nâng cao năng lực quản trị rủi ro, qua đó tạo nền tảng thu hút dòng vốn dài hạn.
Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

(TBTCO) - Nghị quyết số 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cụ thể hóa đột phá trong thu hút đầu tư nước ngoài, từ hoàn thiện thể chế đến phát triển hệ sinh thái đầu tư đồng bộ. Bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư về những chuyển động chính sách nhằm nâng chất dòng vốn FDI và tăng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

(TBTCO) - Dù chiếm tỷ trọng đáng kể trong cộng đồng doanh nghiệp, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận vốn. Theo bà Từ Thu Hiền - Giám đốc Sáng kiến Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và kinh doanh (WISE), cải thiện khả năng tiếp cận vốn sẽ tạo điều kiện để nhóm doanh nghiệp này phát huy tiềm năng, mở rộng hoạt động và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) nhấn mạnh, sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều chính sách đã được ban hành đồng bộ, tạo động lực cho doanh nghiệp bứt phá từ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

(TBTCO) - Dòng vốn FDI từ EU còn rất nhiều tiềm năng, song điều quan trọng không chỉ là thu hút thêm vốn mà còn là thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, hình thành quan hệ đối tác đầu tư có chiều sâu... Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Christian-Ludwig Weber-Lortsch, cựu Đại sứ Đức tại Việt Nam, thành viên Ban Cố vấn Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) xung quanh vấn đề này.
Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc, Chuyên gia phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu của VIS Rating nhận định, phát triển trái phiếu hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và khả năng định giá rủi ro sẽ góp phần mở rộng cơ hội huy động vốn dài hạn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

(TBTCO) - Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công gắn với khơi thông nguồn vốn tư nhân sẽ tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trong chặng nước rút năm 2026. Theo TS. Nguyễn Văn Hiến - chuyên gia kinh tế, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing (Bộ Tài chính), cần tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai dự án, đồng thời phối hợp hiệu quả chính sách tài khóa và tiền tệ để phát huy tối đa các nguồn lực.
Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng mở ra dư địa tăng trưởng nhờ tích hợp vào giao dịch số, bán theo khoảnh khắc, thay vì sản phẩm. Theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), lợi thế tiếp cận khách hàng của ngân hàng càng lớn, yêu cầu minh bạch và bảo vệ quyền lựa chọn càng cấp thiết, tránh chạy theo “độ phủ” mà bỏ quên “độ hiểu”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều