Lần thứ 5, SHB được vinh danh trong TOP 10 doanh nghiệp có báo cáo thường niên tốt nhất

(TBTCO) - Tại Lễ trao giải Cuộc bình chọn Doanh nghiệp niêm yết (Vietnam Listed Company Awards – VLCA) 2025, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục được vinh danh trong Top 10 Doanh nghiệp có Báo cáo thường niên tốt nhất nhóm ngành Tài chính, đánh dấu lần thứ 5 SHB nhận giải thưởng danh giá này. Thành tích một lần nữa khẳng định tầm vóc, uy tín và sự minh bạch của một trong những ngân hàng tư nhân hàng đầu Việt Nam.
aa

Ra đời từ năm 2008, Cuộc bình chọn Báo cáo thường niên – nay là Cuộc bình chọn Doanh nghiệp niêm yết (Vietnam Listed Company Awards – VLCA) – đã trở thành sự kiện thường niên uy tín nhằm đánh giá, tôn vinh các doanh nghiệp có chất lượng báo cáo và công bố thông tin xuất sắc, tuân thủ thông lệ quản trị tốt cũng như thực hành ESG hiệu quả. Chương trình do Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, Báo Đầu tư Chứng khoán và Dragon Capital tổ chức.

VLCA 2025 được bảo chứng bởi đội ngũ chuyên môn cao từ ACCA, VIOD, IFC cùng các công ty kiểm toán PwC, Deloitte, KPMG, EY, với sự hỗ trợ dữ liệu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và hai Sở Giao dịch Chứng khoán. Nhờ vậy, kết quả cuộc bình chọn đảm bảo tính minh bạch, khách quan và chính xác.

Lần thứ 5, SHB được vinh danh trong TOP 10 doanh nghiệp có báo cáo thường niên tốt nhất

Ông Lê Đăng Khoa - Phó Tổng Giám đốc - đại diện Ngân hàng nhận giải thưởng

Báo cáo thường niên 2024 của SHB với chủ đề “Kỷ nguyên mới: Nhất Tâm – Trí Sáng – Vươn Tầm” được Hội đồng bình chọn đánh giá cao về cả nội dung và hình thức, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nghiêm ngặt của chương trình. Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của SHB trong hoạt động công bố thông tin minh bạch, quản trị theo chuẩn mực quốc tế và hướng tới phát triển bền vững, nhằm tạo ra giá trị lâu dài cho khách hàng, cổ đông, nhà đầu tư, đối tác, cộng đồng và chính ngân hàng.

“Giải thưởng tại VLCA 2025 không chỉ là sự ghi nhận cho những nỗ lực không ngừng của SHB trong nâng tầm quản trị và công bố thông tin, mà còn là động lực để ngân hàng tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và mang đến nhiều giá trị hơn cho khách hàng, cổ đông và cộng đồng. SHB khẳng định quyết tâm đồng hành cùng sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vươn lên mạnh mẽ trên hành trình chinh phục những tầm cao mới trong khu vực và quốc tế”, đại diện SHB chia sẻ.

Sau 32 năm xây dựng và phát triển, SHB đã khẳng định vị thế định chế tài chính hàng đầu Việt Nam, vươn tầm khu vực và quốc tế. SHB hiện nằm trong TOP 5 ngân hàng TMCP tư nhân lớn nhất Việt Nam xét theo vốn điều lệ; TOP 10 ngân hàng TMCP tư nhân uy tín nhất Việt Nam do Vietnam Report xếp hạng; TOP 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á theo bảng xếp hạng của Tạp chí Mỹ Fortune…

Tính đến ngày 30/9/2025, tổng tài sản của SHB đạt 852.695 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cuối năm 2024 và hiện đã vượt kế hoạch năm 2025, hướng đến mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản vào năm 2026. SHB duy trì vị thế trong Top 5 Ngân hàng TMCP tư nhân lớn nhất Việt Nam về vốn điều lệ, vốn hóa đạt trên 3 tỷ USD.

Lần thứ 5, SHB được vinh danh trong TOP 10 doanh nghiệp có báo cáo thường niên tốt nhất

SHB ngày càng khẳng định vị thế, tầm vóc của một trong những ngân hàng tư nhân hàng đầu Việt Nam

Vừa qua, ĐHĐCĐ của SHB thông qua phương án tăng vốn điều lệ năm 2025 với tổng mức tăng 7.500 tỷ đồng. Theo phương án tăng vốn, SHB dự kiến phát hành hơn 459 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu; chào bán 200 triệu cổ phiếu riêng lẻ cho nhà đầu tư chuyên nghiệp và hơn 90 triệu cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP). Dự kiến, sau khi phát hành thành công, vốn điều lệ của SHB sẽ vươn lên TOP 4 ngân hàng tư nhân, đạt hơn 53.400 tỷ đồng.

Bên cạnh kết quả kinh doanh tích cực, SHB đang đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tập trung hiện đại hóa hạ tầng công nghệ, tự động hóa quy trình và phát triển hệ sinh thái số nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng. Ngân hàng đã ra mắt ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới – SHB SAHA, một phiên bản nâng cấp toàn diện so với SHB Mobile. Sự ra đời của SHB SAHA đánh dấu bước đột phá quan trọng trong chiến lược chuyển đổi số của SHB, hiện thực hóa mục tiêu trở thành ngân hàng không giới hạn, đáp ứng tối đa nhu cầu giao dịch và quản lý tài chính mọi lúc, mọi nơi cho khách hàng trong kỷ nguyên số.

Từ đầu năm đến nay, SHB được nhiều tổ chức trong nước và quốc tế vinh danh tại các giải thưởng uy tín, tiêu biểu như giải thưởng “Ngân hàng có Sáng kiến Giải pháp Thanh toán tốt nhất Việt Nam” (The Asian Banker); “Ngân hàng tốt nhất cho Khách hàng khu vực công tại Việt Nam” (FinanceAsia); “Ngân hàng Việt Nam có hoạt động tài trợ bền vững tốt nhất” (Global Finance); “Ngân hàng của năm” (The Banker)...

Song hành với hoạt động kinh doanh, SHB luôn tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội. Trước những ảnh hưởng nặng nề do bão lũ gây ra trong thời gian qua, SHB cùng với T&T Group và SHS đã ủng hộ bà con tỉnh Thái Nguyên 2 tỷ đồng, tỉnh Lạng Sơn 2 tỷ đồng, tỉnh Cao Bằng 500 triệu đồng… Mới đây, SHB và các công ty trong hệ sinh thái của doanh nhân Đỗ Quang Hiển cũng trao tặng kinh phí xây dựng 15 căn nhà tình nghĩa dành cho các hộ nghèo và các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã Hạnh Phúc (Lào Cai) trị giá 1,2 tỷ đồng. Hành trình lan tỏa tâm yêu thương của SHB vẫn đang tiếp tục đến với các tỉnh thành khác, chung tay lan tỏa tinh thần tương thân tương ái, góp phần cải thiện điều kiện sống và hỗ trợ bà con vươn lên ổn định cuộc sống.

SHB đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ và toàn diện, hướng đến mục tiêu trở thành Ngân hàng TOP 1 về hiệu quả; Ngân hàng Số được yêu thích nhất; Ngân hàng Bán lẻ tốt nhất đồng thời là Ngân hàng TOP đầu cung ứng nguồn vốn, sản phẩm tài chính dịch vụ với khách hàng doanh nghiệp chiến lược tư nhân và Nhà nước, có chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, hệ sinh thái, phát triển xanh. Tầm nhìn đến năm 2035, SHB trở thành Ngân hàng bán lẻ hiện đại, Ngân hàng xanh, Ngân hàng số trong TOP đầu của khu vực.
Hồng Nhung

Đọc thêm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80