Lợi nhuận dự báo vẫn tích cực, cổ phiếu ngân hàng liệu lấy lại vai trò dẫn dắt?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, nhóm ngân hàng vẫn cho thấy vai trò trụ cột và được kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận trong nửa cuối năm còn tốt hơn nửa đầu năm. Cùng với đó, nhóm VN30 với tỷ trọng lớn là các cổ phiếu ngân hàng sẽ tăng trưởng tích cực vào nửa cuối của năm, đặc biệt khi FED hạ lãi suất và dòng tiền khối ngoại có thể quay lại với thị trường.
aa

Ngân hàng vẫn là động lực chính thúc đẩy bức tranh lợi nhuận chung

Trong báo cáo phát hành gần đây, Công ty CP Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) dự báo, lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết (DNNY) sẽ bứt phá mạnh mẽ trong nửa cuối năm 2024, với mức tăng trưởng ước tính gần 25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành ngân hàng vẫn là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng, nhờ nhu cầu mở rộng của nền kinh tế, giúp tăng trưởng tín dụng có thể đạt mức mục tiêu từ 14% - 15% so với năm 2023.

Các chuyên gia từ VDSC nhận định, trong nửa cuối năm 2024, kỳ vọng thu nhập lãi sẽ là động lực tăng trưởng thu nhập, trong khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm sẽ giúp lợi nhuận nửa cuối năm tăng trưởng so với nửa đầu năm.

Theo đó, quy mô nợ xấu sẽ giảm nhẹ vào cuối năm khi các ngân hàng có vị thế về lợi nhuận trước dự phòng tốt hơn so với năm 2023 để tiếp tục hấp thụ và làm sạch bảng cân đối, hoạt động kinh tế phục hồi giúp giảm áp lực nợ xấu hình thành và giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu.

Ngoài ra, sự phục hồi của hoạt động kinh tế cũng góp phần giảm áp lực hình thành nợ xấu và đẩy nhanh quá trình xử lý tài sản đảm bảo từ các khoản nợ xấu.

Còn theo báo cáo của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), lợi nhuận của các DNNY trong 6 tháng cuối năm 2024 sẽ tiếp tục duy trì ổn định, nhưng có thể giảm nhẹ so với nửa đầu năm.

Cụ thể, trong nửa đầu năm 2024, tổng lợi nhuận sau thuế của các DNNY đạt 242 nghìn tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm ngành tài chính ghi nhận mức tăng 15,7%, trong khi nhóm phi tài chính tăng 7,8%.

Lợi nhuận dự báo vẫn tích cực, cổ phiếu ngân hàng liệu lấy lại vai trò dẫn dắt?

Mặc dù nhóm ngành phi tài chính giữ vững đà tăng trưởng trong suốt ba quý liên tiếp, nhưng với ngành tài chính, đặc biệt là toàn ngành ngân hàng, được ACBS dự báo sẽ tiếp tục duy trì lợi nhuận vượt trội, với mức tăng 19,9% trong năm nay và tăng trưởng tín dụng đạt 15%.

Sự tăng trưởng ổn định của ngành ngân hàng so với cùng kỳ năm trước được hỗ trợ bởi biên lãi thuần (NIM) đang mở rộng, nhờ chi phí huy động vẫn duy trì ở mức thấp cùng với mức nền của ngành trong quý II và quý III/2023 cũng ở mức thấp.

FED hạ lại suất, cổ phiếu ngành ngân hàng sẽ hưởng lợi

Báo cáo của ACBS cho thấy, các phiên điều chỉnh sâu vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8/2024, cùng với sự bán tháo trên thị trường chứng khoán thế giới, đã khiến VN-Index mất đà tăng từ tháng 10/2023. Mặc dù có nguy cơ suy thoái từ nền kinh tế Mỹ, VN-Index được dự báo sẽ dao động trong biên độ 1.150 – 1.300 điểm trong nửa cuối năm 2024, nhờ vào sự ổn định và tăng trưởng tích cực của kinh tế Việt Nam.

Cùng với đó, nhóm cổ phiếu vốn hóa trung bình (VNMid) tăng giá mạnh nhất kể từ đầu năm 2024 đến nay, trong khi nhóm cổ phiếu VN30 và vốn hóa nhỏ (VNSml) có mức tăng thấp hơn. Dù tăng so với đầu năm nhưng định giá P/E của VN30 vẫn thấp hơn nhiều so với giai đoạn 2020 - 2024, trong khi VNMid và VNSml lại vượt xa mức trung vị của giai đoạn này.

“Với triển vọng lợi nhuận khó bứt phá trong 1 - 2 quý tới, cổ phiếu vốn hóa vừa và nhỏ sẽ phải điều chỉnh, trong khi cơ hội sẽ nghiêng về nhóm VN30, đặc biệt nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất và dòng tiền từ nhà đầu tư nước ngoài trở lại” – các chuyên gia của ACBS nhận định.

Lợi nhuận dự báo vẫn tích cực, cổ phiếu ngân hàng liệu lấy lại vai trò dẫn dắt?
Nhóm ngành ngân hàng tiếp tục là động lực chính dẫn dắt đà tăng của VN-Index.

FED dự kiến sẽ bắt đầu hạ lãi suất từ tháng 9/2024, có thể giảm tới 1% trong năm nay, tạo điều kiện cho VN30, đặc biệt là cổ phiếu ngân hàng sẽ được hưởng lợi. Kinh tế Việt Nam được kỳ vọng tăng trưởng trên 6,2% trong năm 2024, với động lực từ công nghiệp, xây dựng và xuất khẩu. Áp lực tỷ giá giảm, lạm phát dưới 4,5% và lãi suất huy động có thể tăng nhẹ.

Đồng quan điểm, VDSC dự báo, môi trường chính sách tiền tệ ôn hòa và tăng trưởng lợi nhuận tích cực của các nhóm DNNY sẽ là yếu tố thúc đẩy thị trường phục hồi trong nửa cuối năm 2024. Theo đó, các cổ phiếu tiềm năng trong giai đoạn này bao gồm các doanh nghiệp trong ngành tiêu dùng, thép, ngân hàng, khu công nghiệp, và thủy sản. Ngành dệt may cũng được xem là cơ hội đầu tư nếu giá cổ phiếu giảm mạnh trong các đợt điều chỉnh của thị trường.

Hiện tại, mức chênh lệch lợi tức giữa thị trường chứng khoán và lợi tức trái phiếu chính phủ đang cao hơn đáng kể so với trung bình 5 năm qua, điều này có thể điều chỉnh lại về mức trung bình khi những biến động ngắn hạn qua đi.

Nhóm ngân hàng được dự báo sẽ dẫn dắt thị trường trong những tháng cuối năm nhờ tăng trưởng tín dụng đạt mục tiêu 14% - 15% và quy mô nợ xấu giảm nhẹ. Bất động sản cũng dự kiến đóng góp lớn vào tăng trưởng lợi nhuận nhờ các dự án bàn giao từ các chủ đầu tư lớn.

Bên cạnh các ngành hàng hóa và dịch vụ công nghiệp, bán lẻ và hàng không cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong bức tranh tăng trưởng chung. Dựa trên dự báo tăng trưởng lợi nhuận từ 14% - 18% và kịch bản P/E giao dịch từ 13,5 đến 15 lần, VDSC đánh giá vùng điểm hợp lý của VN-Index sẽ dao động từ 1.236 đến 1.420 điểm sau khi phản ánh kết quả kinh doanh cả năm 2024 so với năm trước.
Diệu Khiết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

(TBTCO) - Sáng 25/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng, lên 25.641 đồng, trong khi USD trên thị trường tự do và ngân hàng diễn biến phân hóa. Chỉ số DXY nhích 0,13% lên 101,25 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất gia tăng, trong bối cảnh quan chức Fed phát tín hiệu cứng rắn và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

(TBTCO) - Tháng 9/2026 tại New York (Mỹ), trong Global Strategy Summit 2026, Hội nghị đối thoại chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo do McKinsey & Company tổ chức, Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy đã chia sẻ những góc nhìn về những vấn đề đang đặt ra với nhiều doanh nghiệp trên thế giới: tăng trưởng bền vững trước áp lực ngắn hạn, nhận diện xu hướng nhưng không chạy và chuẩn bị con người trước những thay đổi mà AI tạo ra.
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17721 17994 18570
CAD 17834 18108 18724
CHF 30686 31062 31700
CNY 0 3828 3924
EUR 28958 29177 30253
GBP 33562 33950 34896
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14415 15006
SGD 19795 20076 20643
THB 694 757 810
USD (1,2) 25725 0 0
USD (5,10,20) 25764 0 0
USD (50,100) 25792 25806 26172
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30