Nâng tầm dự trữ quốc gia, bảo đảm tự chủ chiến lược
Bệ đỡ chiến lược cho an sinh và sự phát triển bền vững
Nhìn lại quá trình 70 năm xây dựng và phát triển của ngành Dự trữ Nhà nước (7/8/1956 - 7/8/2026), đặc biệt kể từ dấu mốc quan trọng năm 2000 khi Cục Dự trữ Quốc gia chính thức trực thuộc Bộ Tài chính, ngành đã ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc về cả tiềm lực lẫn mô hình quản lý.
Đặc biệt, bước sang giai đoạn mới, từ ngày 1/3/2025, thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy của Đảng và Nhà nước, mô hình quản lý của ngành Dự trữ Nhà nước được tổ chức lại từ 3 cấp sang 2 cấp trực thuộc Bộ Tài chính. Với 7 ban, Văn phòng tại Trung ương và 15 Cục Dự trữ Nhà nước khu vực tại các địa phương, bộ máy mới vận hành linh hoạt, phản ứng nhanh và đạt hiệu quả tối đa.
![]() |
| Dự trữ quốc gia không chỉ phục vụ cứu trợ khẩn cấp, mà đang từng bước phát triển thành nguồn dự trữ chiến lược, góp phần bảo đảm an ninh kinh tế. Ảnh: Đức Thanh |
Song hành với tinh gọn tổ chức là sự bứt phá về thể chế từ các quyết định hành chính ban đầu đến Pháp lệnh Dự trữ quốc gia năm 2004, Luật Dự trữ quốc gia năm 2012 và mới đây nhất, Luật Dự trữ quốc gia được Quốc hội thông qua vào tháng 12/2025. Đây được coi là bước ngoặt quan trọng nhằm thể chế hóa Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm (theo Thông báo số 342/TB-VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng).
Vai trò, nhiệm vụ của Dự trữ Nhà nước giờ đây không còn đơn thuần là việc cất giữ, bảo quản hàng hóa trong kho, đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách, phục vụ quốc phòng, an ninh hay cứu trợ an sinh xã hội, mà còn vươn lên đảm nhận sứ mệnh: thực hiện tự chủ chiến lược quốc gia và trở thành công cụ đắc lực để điều tiết thị trường, bình ổn kinh tế vĩ mô.
Trụ cột quan trọng bảo đảm ổn định vĩ mô, an ninh kinh tế và phát triển bền vữngNghị quyết số 39-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu mới: dự trữ quốc gia không chỉ phục vụ cứu trợ khẩn cấp, mà cần từng bước phát triển thành nguồn dự trữ chiến lược, góp phần bảo đảm an ninh kinh tế, tài chính, năng lượng và lương thực, đồng thời hỗ trợ ổn định thị trường. Mục tiêu đặt ra là đưa tổng mức dự trữ quốc gia đạt khoảng 1% GDP vào năm 2030 và 2% GDP vào năm 2045. Đây không chỉ là mục tiêu về quy mô nguồn lực, mà còn thể hiện quyết tâm xây dựng hệ thống dự trữ quốc gia đủ tiềm lực, hiện đại, chủ động và linh hoạt, xứng đáng là một trong những trụ cột quan trọng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế và phát triển bền vững của đất nước. |
Nói đến ngành Dự trữ Nhà nước là nói đến những mệnh lệnh xuất cấp trong đêm, những chuyến xe xuyên bão lũ mang theo sự sống và niềm tin đến với đồng bào. Trong giai đoạn 10 năm 2016 - 2025, toàn ngành đã xuất cấp khối lượng hàng hóa trị giá hơn 20 nghìn tỷ đồng (riêng Bộ Tài chính tổ chức xuất cấp khối lượng hàng hóa trị giá hơn 17 nghìn tỷ đồng, chiếm 84,37%).
Những con số đó được hiện hữu bằng hàng ngàn tấn gạo cứu đói, các thiết bị cứu hộ đặc chủng, vắc-xin, vật tư y tế... giúp đất nước vượt qua đại dịch Covid-19, khắc phục hậu quả siêu bão Yagi hay đợt lũ lụt lịch sử tại miền Bắc và miền Trung cuối năm 2025. Không chỉ phục vụ các trường học bán trú vùng biên giới, hải đảo, cán bộ ngành Dự trữ sẵn sàng vượt đường ngập, bất chấp nguy hiểm để giao hàng cứu trợ ngay trong đêm, đúng với tinh thần “khi cần là có, khi khó có ngay”.
Bên cạnh nhiệm vụ ở trong nước, ngành Dự trữ Nhà nước còn thực hiện sứ mệnh ngoại giao cao cả, kịp thời viện trợ cho các nước bạn như Cuba, Lào, Triều Tiên, Philippines..., góp phần thắt chặt tình đoàn kết và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cùng với đó, cơ sở hạ tầng của ngành cũng được tăng cường đầu tư, từng bước hiện đại hóa. Từ những kho dự trữ thô sơ được hình thành trong chiến tranh, đến nay, ngành Dự trữ Nhà nước đã được quan tâm bố trí nguồn vốn xây dựng hệ thống kho mới, đồng bộ, với công nghệ bảo quản cơ bản đáp ứng yêu cầu nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gia.
Theo Quyết định số 214/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1528/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, hệ thống kho dự trữ quốc gia thời kỳ 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã chính thức được phê duyệt với 171 điểm kho, gồm 97 điểm kho được đầu tư xây dựng mới và các điểm kho được cải tạo, nâng cấp, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng hệ thống quản trị hiện đại.
Yêu cầu mới trong kỷ nguyên phát triển bứt phá
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Dự trữ Nhà nước diễn ra ngày 6/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn chia sẻ, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, bên cạnh những thời cơ thuận lợi, đất nước cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ biến động kinh tế, chính trị thế giới, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các thách thức an ninh phi truyền thống.
“Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với ngành Dự trữ Nhà nước ngày càng cao, đòi hỏi toàn ngành tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nâng cao tinh thần tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Bộ Tài chính giao” - Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Theo đó, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Dự trữ Nhà nước không chỉ dừng lại ở “đủ về số lượng”, mà phải “nhanh về tốc độ”, “hiện đại về phương thức” và “chiến lược về tầm nhìn”.
Cùng với việc tiếp tục củng cố mô hình tổ chức bộ máy, ngành Dự trữ Nhà nước sẽ tập trung xây dựng, tham mưu hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý đồng bộ để đưa Luật Dự trữ quốc gia (năm 2025) vào cuộc sống. Đồng thời, xây dựng quy mô, cơ cấu dự trữ phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; phát huy hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế để vừa bảo đảm tự chủ chiến lược, vừa làm công cụ điều tiết thị trường.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, ứng dụng khoa học công nghệ mới vào bảo quản và quản lý kho. Ngành Dự trữ Nhà nước cũng sẽ tiếp tục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị và năng lực quản trị cho đội ngũ cán bộ; chủ động mở rộng trao đổi kinh nghiệm, tiếp thu thành tựu tiên tiến thế giới về dự trữ chiến lược và an ninh lương thực...
Đề cập vai trò của dự trữ quốc gia trong giai đoạn phát triển mới, Cục trưởng Cục Dự trữ Nhà nước Bùi Tuấn Minh đã nhấn mạnh 3 yêu cầu cốt lõi.
Trước hết, là tính sẵn sàng. Hàng dự trữ phải luôn trong trạng thái có thể huy động, xuất cấp, phục vụ kịp thời khi đất nước và nhân dân cần.
Thứ hai, là tính tiềm lực. Dự trữ quốc gia phải đủ mạnh về quy mô, hợp lý về cơ cấu, chủng loại, địa bàn, đáp ứng yêu cầu, khả năng ứng phó, hỗ trợ, điều tiết và phục vụ các nhiệm vụ chiến lược của quốc gia.
Thứ ba, là tính phòng ngừa - giúp đất nước chủ động, có sức chống chịu tốt trước các biến động lớn về thiên tai, dịch bệnh, thị trường hay quốc phòng, an ninh.
“Mục tiêu là thực hiện đúng kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khi cần là có, khi khó có ngay” - Cục trưởng Cục Dự trữ Nhà nước Bùi Tuấn Minh khẳng định.



