Ngân hàng đổ mạnh tiền cho vay bất động sản dù thị trường trầm lắng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bất động sản trầm lắng 2 năm qua cùng nguồn cung nhỏ giọt, dòng vốn tín dụng vẫn đổ mạnh vào thị trường và chôn chặt trong nhiều dự án. Nhiều ngân hàng có mức tăng trưởng dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tăng gấp 2-3 lần, tỷ trọng cho vay lĩnh vực này tiếp đà tăng.
aa

Theo thống kê của TBTCVN từ các ngân hàng niêm yết, tổng dư nợ tín dụng bất động sản của 13 ngân hàng hạch toán chi tiết khoản mục cho vay kinh doanh bất động sản đạt 661,86 nghìn tỷ đồng tính đến cuối quý III/2024, tăng 23,1% so với cuối năm 2023. Trong đó, 11/13 ngân hàng ghi nhận dư nợ cho vay bất động sản tăng trong khi có hai nhà băng sụt giảm là LPBank và PGBank.

Tín dụng tăng trưởng thần tốc

Cụ thể, Techcombank là ngân hàng bơm vốn tín dụng cho hoạt động kinh doanh bất động sản lớn nhất, với dư nợ gần 210 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với cuối năm 2023. Đây cũng là ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản lớn nhất trong tổng dư nợ tính theo danh sách được thống kê (33,48%).

Tiếp đó là VPBank với dư nợ cho vay bất động sản đạt 164.907 tỷ đồng, tăng 43,5% so với cuối năm 2023, chiếm gần 26% tổng số tiền cho vay khách hàng.

Các nhà băng khác cũng cho vay bất động sản đạt khá lớn, trên 50.000 tỷ đồng như: SHB, HDBank và MB. Trong đó, HDBank ghi nhận dư nợ bất động sản 61.207 tỷ đồng cuối quý III/2024, tăng nhẹ 5% so với cuối năm ngoái, chiếm 15,35% tổng dư nợ. MB cho vay kinh doanh bất động sản 55.082 tỷ đồng, tăng 27,3% so với cuối năm 2023, chiếm 7,85% tổng dư nợ vay.

Một số ngân hàng như: VietBank, TPBank, Maritime Bank và LPBank cho vay bất động sản trên 10.000 tỷ đồng. Còn lại các ngân hàng Bản Việt, VIB, Kienlongbank và PGBank cho vay kinh doanh bất động sản ở mức thấp, dưới 10.000 tỷ đồng.

Ngân hàng đổ mạnh tiền cho vay bất động sản dù thị trường trầm lắng

Xét về tốc độ tăng trưởng dư nợ, VIB đẩy mạnh cho vay bất động sản ba quý đầu năm 2024, với tốc độ tăng trưởng 275,1%, nâng dư nợ cho vay bất động sản từ 1.673 tỷ đồng lên gần 6.279 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ trọng cho vay bất động sản chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 2,1% dư nợ tín dụng của nhà băng này.

Kienlongbank cũng ghi nhận mức tăng mạnh dư nợ tín dụng bất động sản 171,9%, đưa dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản từ 2.196 tỷ đồng lên 5.968 tỷ đồng, chiếm 10,07% tổng dư nợ.

Trong vòng 2 năm, dữ liệu của TBTCVN cho thấy, tín dụng cho vay kinh doanh bất động sản tại Techcombank tăng gấp đôi, từ 98 nghìn tỷ đồng cuối quý 3/2022 lên gần 210 nghìn tỷ đồng cuối quý 3/2024. Dư nợ lĩnh vực này tại SHB và VPBank cũng tăng trưởng thần tốc, gấp 3 lần chỉ sau 2 năm.

Ở chiều ngược lại, PGBank và LPBank là hai ngân hàng ghi nhận giảm dư nợ cho vay ở lĩnh vực này với tỷ lệ giảm lần lượt là 19,9% và 11,2%, lần lượt chỉ còn 1.682 tỷ đồng và 12.408 tỷ đồng.

Xét về tỷ trọng, tín dụng bất động sản đóng vai trò hết sức quan trọng trong cấu trúc tín dụng của Techcombank khi dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng cho vay khách hàng doanh nghiệp và tín dụng cho vay mua nhà ở mức cao với cho vay khách hàng cá nhân. Tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản nhà băng này ở mức 33,48% cuối quý 3 và trên đà tăng từ mức 24% sau hai năm.

Tại VPBank, dư nợ cho vay bất động sản chiếm 25,96% tổng dư nợ. Một số ngân hàng khác có tỷ trọng cho vay bất động sản ở mức cao có thể kể đến như: Vietbank (19,4%); SHB, HDBank…

Các số liệu nêu trên chưa tính đến các khoản cho vay "ẩn mình" dưới dạng phục vụ nhu cầu đời sống để mua nhà ở, xây dựng hay cải tạo nhà ở.

Tính chung toàn ngành, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến cuối tháng 9/2024, dư nợ cho vay bất động sản đạt 3,15 triệu tỷ đồng, tăng 9,15% so với cuối năm ngoái và cao hơn 0,15% so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Lưu tâm kiểm soát rủi ro

Trong bối cảnh thị trường bất động sản trầm lắng 2 năm qua, nguồn cung nhỏ giọt thì dòng vốn tín dụng vẫn đổ mạnh vào thị trường và chôn chặt trong nhiều dự án. Những biến động trong thị trường bất động sản cần được theo dõi sát sao, trong trường hợp thị trường bất động sản phục hồi chậm, trầm lắng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tài sản của ngân hàng.

Bình luận về vấn đề này, trao đổi với phóng viên TBTCVN, Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI cho rằng, một mặt tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực bất động sản hoàn toàn bình thường vì theo cung cầu thị trường, song cần lưu ý rủi ro nếu ngân hàng cứ sa đà rót vốn, kiểm soát không tốt chất lượng tín dụng, hay dự án, phương án triển khai không hiệu quả, thiếu khả thi thì nguy cơ rất lớn và nghiêm trọng.

Ngân hàng đổ mạnh tiền cho vay bất động sản dù thị trường trầm lắng
Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI.

Vốn ứ đọng gây nhiều nguy cơ

Bình thường bất động sản là một lĩnh vực tiềm năng. Việc thị trường đóng băng song giá cao và kém thanh khoản do vướng mắc pháp lý và lỗi của thể chế khi chặn đứng nguồn cung. Điều này khiến bao nhiêu vốn ứ đọng, thậm chí người dân cũng khốn khổ, giá nhà cao và không có nhà để ở.

Ngân hàng đứng trước nguy cơ không thu hồi được vốn nhưng vẫn phải trả lãi cho người dân và phải hợp thức hoá thông qua chính sách cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ. Cũng không loại trừ khả năng ngân hàng khó thu được gốc lại phải cho vay thêm, nuôi nợ để tránh nợ quá hạn. Như vậy, nguy cơ và rủi ro lớn nhưng xuất phát từ nhiều lý do, trong đó, sai lầm lớn nhất là chặn nguồn cung khiến nhà ở thiếu hụt.

Cũng theo ông Đức, tỷ trọng cho vay bất động sản trong tổng dư nợ có thể cao hơn vẫn an toàn, nếu không xảy ra những rủi ro như: dịch bệnh, chiến tranh hay điều hành chính sách không hợp lý để xảy ra tình trạng tăng giá bất thường nhưng dự án đình trệ, gây méo mó thị trường.

Việc kiểm soát rủi ro với tín dụng bất động sản thông qua nhiều quy định như: trần cho vay bất động sản trong tổng dư nợ của một định chế, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, tỷ trọng rủi ro với tín dụng bất động sản được áp dụng trong tính tổng tài sản có rủi ro khi kiểm soát tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR).

Phát biểu tại nghị trường Quốc hội mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, việc các tổ chức tín dụng cấp tín dụng vào các lĩnh vực nào và tỷ lệ là bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào sự quyết định của tổ chức tín dụng, trên cơ sở tùy thuộc vào nguồn vốn của họ huy động. Toàn hệ thống ngân hàng huy động chủ yếu ngắn hạn, lên đến 80% trong khi cho vay dự án bất động sản với giá trị lớn và kỳ hạn dài, do đó, các ngân hàng sẽ phải cân đối, đảm bảo an toàn để khi người dân rút tiền, ngân hàng sẵn sàng có khả năng chi trả.

"Về mặt quy định pháp luật, chúng tôi có chỉ tiêu sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn và hiện quy định không được vượt quá 30%. Còn trong giám sát hàng ngày, NHNN có những cảnh báo đối với các tổ chức tín dụng có tiềm ẩn rủi ro để đảm bảo an toàn hệ thống" - Thống đốc nêu rõ.

Thị trường đang đặt nhiều kỳ vọng, sớm phục hồi nhờ nguồn cung dự án sẽ cải thiện sau khi các đạo luật mới thi hành và thẩm thấu vào thị trường, qua đó, giúp tháo gỡ phần lớn các vướng mắc pháp lý cho các dự án phát triển bất động sản đã và đang hình thành trong tương lai./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

(TBTCO) - Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu, căng thẳng tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng và tỷ giá chịu áp lực, kéo theo tác động tới mặt bằng giá trong nước. Nguy cơ "nhập khẩu lạm phát" gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80