Ngân hàng năm 2016: Cảnh báo áp lực từ nợ xấu và lãi dự thu

H.Y

H.Y

(TBTCVN) - Trong khi nợ xấu vẫn đang là vấn đề lớn gây áp lực tài chính với hệ thống ngân hàng thì một vấn đề nữa cũng đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cho “sức khỏe” của hệ thống ngân hàng là lãi dự thu.
aa

Kết quả kinh doanh của hệ thống tổ chức tín dụng khởi sắc hơn

Kết quả kinh doanh của hệ thống tổ chức tín dụng khởi sắc hơn

Đây là những đánh giá được nêu ra tại hội thảo mới đây của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) về tình hình tài chính Việt Nam năm 2015.

Nợ xấu phát sinh thêm 45.000 tỷ đồng trong năm 2015

Theo đánh giá của UBGSTCQG, trong năm 2015, tổng tài sản hệ thống ngân hàng tăng 12,4%, đạt trên 7.109 nghìn tỷ đồng. Tín dụng tăng 19% trong khi huy động vốn tăng 16,1%. Cơ cấu tài sản nợ bền vững hơn. Kết quả kinh doanh của hệ thống tổ chức tín dụng khởi sắc hơn. Lợi nhuận sau trích lập dự phòng rủi ro tăng 43,5%. Chất lượng tín dụng được cải thiện đáng kể. Số nợ quá hạn là 179.501 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn là 4,4%, giảm so với năm 2014 là 5,3%. Tỷ lệ nợ xấu giảm từ 3,7% xuống 2,9% (xấp xỉ 200.000 tỷ đồng).

Tuy nhiên, Phó Chủ tịch UBGSTCQG Trương Văn Phước cũng đề cập đến những vấn đề cần lưu ý với hệ thống ngân hàng. Trong năm qua, số nợ xấu được giải quyết chủ yếu thông qua bán cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Số nợ bán cho VAMC đến năm 2015 là 243.000 tỷ đồng, tăng so với mức 133.000 tỷ đồng của năm 2014 và lớn hơn số nợ xấu hiện có tại các ngân hàng. Với số nợ này, mặc dù đã bán cho VAMC nhưng thực chất các ngân hàng vẫn phải trích dự phòng, gây gánh nặng tài chính lớn cho các ngân hàng.

Phân tích dài hạn hơn về chất lượng tín dụng, ông Trương Văn Phước cho biết việc tăng trưởng tín dụng rất cao trong năm qua cũng là một điều cần cảnh báo về nguy cơ phát sinh nợ xấu. Trong năm 2015, số nợ xấu mới phát sinh là 45.000 tỷ đồng. Theo ông Trương Văn Phước, mặc dù con số này chưa bộc lộ rõ ở thời điểm hiện nay nhưng là nguy cơ tiềm ẩn cho các năm tiếp theo khi tín dụng tiếp tục tăng tạo nguồn thu ngắn hạn.

Bên cạnh đó, hiện tại thanh khoản của các ngân hàng đang ổn định nhưng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro trong tương lai khi tỷ lệ vốn cho vay trung dài hạn chiếm tới 55%, còn vốn huy động dài hạn chỉ trên dưới 10%. Mức chênh lệch lớn này cần phải được lưu ý, điều chỉnh để đảm bảo thanh khoản cho hệ thống.

Lãi dự thu tiềm ẩn nhiều rủi ro

Không chỉ nợ xấu, lãi dự thu cũng là vấn đề được đề cập tại hội thảo của UBGSTCQG như là một rủi ro đối với hệ thống ngân hàng.

Theo ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright, một số ngân hàng đang ghi nhận ngày càng nhiều khoản lãi mà thực chất chưa nhận được tiền. Cụ thể là các khoản lợi nhuận từ cho vay tín dụng, thay vì thu lãi định kỳ thì được thu lãi cuối kỳ và nhập gốc. Trong khi đó, trên sổ sách kế toán, khoản lãi này được phân bổ trong suốt kỳ và tính vào lợi nhuận.

“Nếu nhìn vào dòng tiền chứ không phải lợi nhuận kế toán thì khoản lãi huy động mà ngân hàng phải trả khớp nhau về số tiền mặt và số kế toán, huy động bao nhiêu thì trả lãi bấy nhiêu. Tuy nhiên, khoản lãi khi ngân hàng cho vay lại chưa thu được, mới là ghi dự thu và vẫn được tính vào lợi nhuận”, ông Nguyễn Xuân Thành giải thích.

Theo các chuyên gia, điều này có những hệ lụy cần phải cảnh báo bởi khoản lợi nhuận chưa thu được này chưa phải là lợi nhuận thực. Nếu cuối kỳ, khoản lãi này không thu được thì sẽ gây nguy hiểm cho ngân hàng và cả hệ thống, gây áp lực lớn cho quá trình tái cấu trúc ngân hàng.

Đây cũng là điều được đề cập trong báo cáo của UBGSTCQG. Một trong bốn vấn đề được Ủy ban lưu ý về khu vực ngân hàng là quy mô lãi dự thu lớn và cần có chính sách xử lý phù hợp đối với các loại hình ngân hàng thương mại. Theo số liệu của Ủy ban, chỉ riêng lãi dự thu của 5 ngân hàng tái cơ cấu vừa qua đã là 38.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2014, và chiếm 33,9% lãi dự thu toàn hệ thống. Như vậy, có thể ước tính lãi dự thu của cả hệ thống vào khoảng 112.000 tỷ đồng, một con số không nhỏ.

UBGSTCQG đã công bố một số thông tin về tình hình hoạt động năm 2015 của nhóm ngân hàng tái cơ cấu, gồm Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Ngân hàng TMCP Tiên phong, Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Ngân hàng TMCP Đại chúng, Ngân hàng TMCP Quốc dân. Cụ thể, tổng tài sản của các ngân hàng tăng 21,5% (năm 2014 là 31,4%), huy động tăng 25% (năm 2014 là 38,1%), tín dụng tăng 24,8% (năm 2014 là 40,5%). Lợi nhuận sau trích lập dự phòng rủi ro giảm 4% (năm 2014 tăng 2,2%).

H.Y

H.Y

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Kim TT/AVPL 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Nguyên Liệu 99.99 13,050 ▼800K 13,250 ▼800K
Nguyên Liệu 99.9 13,000 ▼800K 13,200 ▼800K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▼750K 14,200 ▼750K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▼750K 14,150 ▼750K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▼750K 14,130 ▼750K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Nghệ An 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Thái Bình 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
NL 99.90 13,050 ▼700K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼700K
Trang sức 99.9 13,840 ▼480K 14,540 ▼480K
Trang sức 99.99 13,850 ▼480K 14,550 ▼480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,437 ▼51K 14,672 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,437 ▼51K 14,673 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,436 ▼51K 1,466 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,436 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▼51K 1,451 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼4555K 143,663 ▼4555K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▼3450K 108,986 ▼3450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,328 ▼3128K 98,828 ▼3128K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,917 ▼74059K 8,867 ▼82609K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,252 ▼2682K 84,752 ▼2682K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,163 ▼1918K 60,663 ▼1918K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cập nhật: 19/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17927 18202 18775
CAD 18079 18354 18966
CHF 31993 32375 33017
CNY 0 3846 3939
EUR 29535 29756 30834
GBP 34011 34401 35332
HKD 0 3226 3428
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14791 15379
SGD 19834 20116 20688
THB 717 780 833
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26440
AUD 18094 18194 19117
CAD 18258 18358 19373
CHF 32272 32302 33888
CNY 3829.2 3854.2 3990
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29703 29733 31461
GBP 34240 34290 36050
HKD 0 3355 0
JPY 159.86 160.36 170.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14929 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20009 20139 20867
THB 0 747.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14800000
SBJ 13500000 13500000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,440
USD20 26,156 26,206 26,440
USD1 26,156 26,206 26,440
AUD 18,160 18,260 19,365
EUR 29,859 29,859 31,270
CAD 18,214 18,314 19,623
SGD 20,090 20,240 20,801
JPY 160.32 161.82 166.36
GBP 34,158 34,508 35,615
XAU 14,478,000 0 14,782,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80