Thị trường tiền tệ tuần 17/2-21/2:

Ngân hàng Nhà nước chấm dứt chuỗi hút ròng liên tiếp trên thị trường liên ngân hàng, giá vàng nhẫn lập đỉnh mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (17/2-21/2) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấm dứt chuỗi hút ròng liên tiếp trên thị trường liên ngân hàng và quay trở lại trạng thái bơm ròng nhẹ. Trong khi đó, thị trường vàng cả trong và ngoài nước cũng ghi nhận bầu không khí sôi động, đặc biệt thị trường trong nước chứng kiến sự tăng “nóng” của vàng nhẫn.
aa
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề cập các lĩnh vực ưu tiên vốn tín dụng, tạo đà tăng GDP trên 8% Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới

Ngân hàng Nhà nước quay lại trạng thái bơm ròng nhẹ

Ngày 20/2, NHNN đã chấm dứt chuỗi hút ròng liên tiếp trên thị trường liên ngân hàng (tổng lượng hút gần 79.000 tỷ đồng) và bơm ròng 300 triệu đồng trên hai kênh OMO và tín phiếu. NHNN đã cho 7 thành viên vay gần 5.000 tỷ đồng thông qua phát hành tín phiếu với lãi suất 3,9%/năm trong khi khối lượng đáo hạn là 5.000 tỷ đồng, tổng tín phiếu đang lưu hành hiện nay là gần 23.700 tỷ đồng. Trên kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá không phát sinh thêm giao dịch mới.

Ngân hàng Nhà nước chấm dứt chuỗi hút ròng liên tiếp trên thị trường liên ngân hàng, giá vàng nhẫn lập đỉnh mới
Ngân hàng Nhà nước quay lại trạng thái bơm ròng nhẹ. Ảnh: T.L
Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã có dấu hiệu chững lại trong phiên 19/2 ở mức 4,3%/năm. Ngoài ra lãi suất các kỳ hạn dài hơn như một tuần và một tháng cũng hạ nhiệt đáng kể so với mức cao trong những tuần vừa qua, lần lượt ở mức 4,44%/năm và 4,72%/năm. Giới phân tích dự phóng lãi suất liên ngân hàng có thể giao dịch quanh ngưỡng cao, đảm bảo mức chênh lệch lãi suất giữa VND và USD trong thời gian tới.

Việc NHNN dừng hút ròng cho thấy thanh khoản thị trường đã trở về trạng thái bình thường sau khoảng thời gian dồi dào sau Tết Nguyên đán. Động thái cũng góp phần giữ lãi suất VND ở mức cao tương đối so với USD, tránh cho chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND trên thị trường ở mức cao, gây áp lực lên tỷ giá.

Trước đó, báo cáo chứng khoán Vietcap cho biết riêng trong tháng 1/2025, NHNN đã bơm ròng 67.500 tỷ đồng thông qua tín phiếu kho bạc và OMO (tháng 12/2024, bơm ròng chỉ 2.300 tỷ đồng) để ổn định tỷ giá.

NHNN mới đây đã đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% nhằm đạt được mức tăng trưởng kinh tế 8% trong năm 2025. Do đó các ngân hàng cần tập trung thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cũng như huy động vốn ngay từ đầu năm để đạt được mục tiêu đề ra.

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng khẳng định ngành ngân hàng sẽ quán triệt sâu sắc tinh thần tăng trưởng bứt phá, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8% trở lên. Đây là nền tảng để tạo đà phát triển kinh tế cao trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, song song với nhiệm vụ tăng trưởng, NHNN cũng nhấn mạnh việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.

Một trong những trọng tâm hàng đầu của NHNN là theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước, từ đó chủ động đưa ra các giải pháp và công cụ điều hành phù hợp. Mục tiêu là kiểm soát lạm phát ở mức 4,5-5%, đồng thời ổn định thị trường tiền tệ và đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Giá vàng nhẫn thiết lập kỷ lục mới

Thị trường vàng tuần qua diễn biến rất sôi động, thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 21/2/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.939,18 USD/ounce, tăng 20,7 USD/ounce so với tuần trước đó.

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 89,831 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.610 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 90,7 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Ngân hàng Nhà nước chấm dứt chuỗi hút ròng liên tiếp trên thị trường liên ngân hàng, giá vàng nhẫn lập đỉnh mới
Giá vàng tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Ảnh: T.L

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 21/02 giữ ở mức 92,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 90 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh hơn 1 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

So với đầu năm, mỗi lượng vàng nhẫn tăng 6,6 triệu đồng ở chiều thu mua và 7,4 triệu đồng ở chiều bán ra. Còn với vàng miếng SJC, mỗi lượng tăng 6,7 triệu đồng ở chiều mua và 7,5 triệu đồng ở chiều bán ra.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng mạnh và chạm mốc 92 triệu đồng/lượng. Giá bán ra của vàng nhẫn liên tiếp lập đỉnh kể từ đầu năm đến nay, đỉnh trước đó của mặt hàng này ghi nhận tại ngày 11/2 tại vùng giá 91,7 triệu đồng/lượng.

Thời điểm ngày 21/2, DOJI tại thị trường Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh điều chỉnh tăng 500.000 đồng giá mua và 400.000 đồng giá bán, lên lần lượt 90,6 triệu đồng/lượng và 92,3 triệu đồng/lượng. Giá mua và giá bán vàng nhẫn thương hiệu PNJ niêm yết ở mốc 90,4 triệu đồng/lượng và 92,2 triệu đồng/lượng, tăng 300.000 đồng cả giá mua và bán. Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá nhẫn tròn trơn ở mức 90,6 triệu đồng/lượng mua vào và 92,4 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 450.000 đồng giá mua và 400.000 đồng giá bán so với rạng sáng qua. Phú Quý SJC đang thu mua vàng nhẫn mức 90,5 triệu đồng/lượng và bán ra mức 92,2 triệu đồng/lượng, tăng 400.000 đồng ở cả 2 chiều.

Trong khi đó, tỷ giá cũng có dấu hiệu nhích tăng, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 21/2 ghi nhận ở mức 24.562 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng liên tục tại tất cả các ngày của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.643 đồng/USD, tăng 81 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng liên tục tăng mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.580 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng mạnh tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.710 đồng/USD, tăng 130 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Theo ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường, Công ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT phân tích, áp lực bên ngoài đối với tỷ giá USD/VND đã giảm tương đối so với thời điểm cuối năm 2024, khi đồng VND đã tăng nhẹ 0,11% so với USD tại ngày 13/2. Mặc dù áp lực từ đà tăng của DXY thuyên giảm, NHNN đã chủ động tăng giá bán USD can thiệp lên 25,698 VND/USD và tăng dần tỷ giá trung tâm, đạt 24,572 VND/USD vào ngày 13/2 (+0,94% kể từ đầu năm).

Chuyên gia phân tích của VnDirect cho rằng, nhìn chung mặc dù áp lực tỷ giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát ở thời điểm hiện tại, việc NHNN chủ động nâng tỷ giá trung tâm và giá bán can thiệp phản ánh nỗ lực của nhà điều hành trong việc điều chỉnh lập trường chính sách tiền tệ để phù hợp hơn với các chỉ tiêu kinh tế sửa đổi mới đây./.

Mai Tấn

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80