Thị trường tiền tệ tuần 24 – 28/2:

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi vay, giá vàng giảm mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (24/2-28/2) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu các ngân hàng ổn định lãi suất tiền gửi, đẩy mạnh giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm nay. Trong khi đó, thị trường vàng cả trong và ngoài nước giảm mạnh đặc biệt vào những ngày cuối tuần.
aa

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định lãi suất tiền gửi

NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại và chi nhánh NHNN tại các địa phương thực hiện ổn định lãi suất tiền gửi, đồng thời đẩy mạnh giảm lãi suất cho vay. Đây là động thái nhằm thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8% trở lên.

Việc giảm lãi suất cho vay đang trở thành nhiệm vụ cấp bách. NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng phải ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi để tránh tạo áp lực lên lãi suất cho vay.

Các ngân hàng cũng được chỉ đạo tiết giảm chi phí hoạt động, tối ưu hóa nguồn lực, ứng dụng công nghệ để giảm lãi suất, đồng thời tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, xuất khẩu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...

Việc công khai minh bạch lãi suất cũng là yêu cầu bắt buộc, đảm bảo khách hàng dễ dàng tiếp cận thông tin về lãi suất cho vay và các gói tín dụng ưu đãi.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi vay, giá vàng giảm mạnh
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi vay. Ảnh: T.L

Không chỉ siết chặt với các ngân hàng thương mại, NHNN chi nhánh tại các tỉnh, thành phố được giao nhiệm vụ theo dõi sát sao, ngăn chặn tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh. Các ngân hàng phải báo cáo định kỳ việc thực hiện giảm lãi suất, nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ký Công điện số 19 ngày 24/2/2025 gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc tăng cường thực hiện các giải pháp giảm lãi suất. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thực hiện ngay việc thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong thời gian qua và việc công bố, thực hiện lãi suất huy động, cho vay của các tổ chức tín dụng, bảo đảm tuân thủ đúng quy định pháp luật và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước.

NHNN còn yêu cầu đẩy mạnh công tác truyền thông, giúp doanh nghiệp và người dân tiếp cận đầy đủ thông tin về chính sách giảm lãi suất. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ thường xuyên theo dõi chặt chẽ lãi suất tiền gửi và cho vay, việc công bố lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của các đơn vị, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng. Nhà điều hành sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các trường hợp vi phạm, các ngân hàng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh, không đúng quy định.

Các chuyên gia nhận định, động thái giảm lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại có thể kéo theo xu hướng giảm lãi suất cho vay, giúp doanh nghiệp và người dân dễ tiếp cận nguồn vốn hơn.

Sau yêu cầu giảm lãi suất huy động tiết kiệm từ NHNN, một số ngân hàng đã thực hiện giảm lãi suất tiết kiệm. Ở kỳ hạn 3 tháng, lãi suất tiết dao động từ 3,3 - 4,6%/năm… Do không bị hạn chế mức lãi suất trần 4,75%/năm nên ở kỳ hạn 6 tháng, các ngân hàng tăng lãi suất huy động lên cao hơn so với kỳ hạn 3 tháng từ 0,7 - 1%/năm. Lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của các ngân hàng dao động từ 4,2 - 5,85%/năm. Mức lãi suất 6%/năm xuất hiện ở kỳ hạn 12 tháng.

Giá vàng thế giới và trong nước giảm mạnh

Thị trường vàng tuần qua diễn biến rất sôi động, thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 28/2/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.877,05 USD/oune, giảm 62 USD/ounce so với tuần trước đó.

Giá vàng thế giới lao dốc từ đỉnh 2.956 USD/ounce do hoạt động chốt lời đang diễn ra. Tuy nhiên, giới chuyên gia nhận định, mối lo ngại về các kế hoạch thuế quan của Tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục là yếu tố hỗ trợ quan trọng, giúp giá vàng duy trì mốc cao.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi vay, giá vàng giảm mạnh
Giá vàng thế giới và trong nước giảm mạnh. Ảnh: T.L

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 88,036 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.725 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 89,1 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước cũng biến động mạnh đặc biệt vào những ngày cuối tuần. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 28/02 giữ ở mức 90,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 88 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm mạnh từ 1,8 triệu đến 2 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng ghi nhận mức giảm mạnh và về mốc 91,3 triệu đồng/lượng. Với mức giá này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao hơn với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 28/02, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 91 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 90 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 89 – 91 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 90 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 91,3 triệu đồng/lượng. So với giá vàng tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng từ 1,2 đến 1,5 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá cũng có dấu hiệu nhích tăng, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 24/2 ghi nhận ở mức 24.638 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng liên tục tại tất cả các ngày của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.696 đồng/USD, tăng 58 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng liên tục tăng mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.680 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ giá bán ra vào ngày thứ Ba và thứ Tư sau đó tăng mạnh tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.740 đồng/USD, tăng 60 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng tăng nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng tăng nhẹ trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 28/2/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,34 điểm, tăng nhẹ điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần, chỉ số này có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng lên mức 110 điểm đầu tháng 1/2025, mức cao nhất trong vòng 2 năm qua.

Mai Tấn

Đọc thêm

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼200K 14,590 ▼200K
Trang sức 99.99 13,900 ▼200K 14,600 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17657 17931 18505
CAD 18020 18295 18910
CHF 31786 32167 32804
CNY 0 3831 3923
EUR 29324 29544 30618
GBP 34331 34722 35652
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14816 15403
SGD 19757 20038 20604
THB 702 765 818
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,327 29,350 30,856
JPY 157.65 157.93 167.45
GBP 34,506 34,599 35,791
AUD 17,856 17,921 18,596
CAD 18,200 18,258 18,931
CHF 32,033 32,133 33,071
SGD 19,869 19,931 20,718
CNY - 3,798 3,943
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.06 16.75 18.23
THB 750.16 759.42 813.01
NZD 14,784 14,921 15,362
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,076
NOK - 2,636 2,732
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.22 - 6,790.66
TWD 739.46 - 895.19
SAR - 6,877.01 7,243.49
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26065 26065 26481
AUD 17844 17944 18869
CAD 18188 18288 19303
CHF 32014 32044 33626
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29476 29506 31232
GBP 34627 34677 36437
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.57
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14923 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19907 20037 20768
THB 0 731.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,094 26,144 26,450
USD20 26,094 26,144 26,450
USD1 26,094 26,144 26,450
AUD 17,901 18,001 19,106
EUR 29,307 29,407 31,065
CAD 18,143 18,243 19,549
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 158.89 160.39 165.92
GBP 34,544 34,694 35,756
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80