Phát triển các loại hình bảo hiểm góp phần ổn định kinh tế - xã hội

Đức Việt
(TBTCO) - Các chuyên gia cho rằng, hơn 2 năm đại dịch Covid-19 bùng phát, nền kinh tế toàn cầu đã chịu những tác động tiêu cực, nhiều quốc gia đã tăng trưởng âm. Đặc biệt, vấn đề an sinh xã hội đã có những diễn biến vô cùng phức tạp. Trước thực trạng này, vai trò của ngành bảo hiểm phải phát triển tất cả các loại hình bảo hiểm nhằm góp phần ổn định kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết.
aa

Sáng 26/5, tại Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Học viện Tài chính tổ chức hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: "Vai trò của ngành Bảo hiểm đối với sự ổn định xã hội và phát triển nền kinh tế".

Phát triển các loại hình bảo hiểm góp phần ổn định kinh tế - xã hội
Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Đức Việt.

Nhận thức về vai trò bảo hiểm vẫn chưa thực sự đầy đủ, đúng bản chất

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Trương Thị Thủy - Phó Giám đốc Học viện Tài chính, cho biết bảo hiểm (BH) có hai vai trò rất lớn là vai trò kinh tế và vai trò xã hội. Trong đó, vai trò kinh tế của BH thể hiện ở những khía cạnh như: BH trực tiếp đảm bảo cho các khoản đầu tư của các cá nhân và doanh nghiệp (DN) trong nền kinh tế. Cho dù đầu tư lớn hay nhỏ, loại hình hay lĩnh vực đầu tư, từ đầu tư cho lĩnh vực dầu khí hay phóng vệ tinh viễn thông, chi đầu tư thương mại nhỏ lẻ... chủ đầu tư không thể mạo hiểm ngồi nhìn số tiền đầu tư “tan thành mây khói”, một khi không có BH.

Nếu nhìn nhận trực diện về vai trò của BH, người ta còn thấy ngay những khoản tiền bồi thường thuộc phạm vi BH cho các cá nhân, DN khi đối tượng BH không may gặp phải rủi ro, tổn thất. Điều đó đã giúp họ kịp thời khắc phục hậu quả, khôi phục lại tài sản ban đầu để tiếp tục ổn định sản xuất, góp phần ổn định nền kinh tế nói chung...

Theo PGS.TS Trương Thị Thủy, vai trò xã hội của BH bắt nguồn từ chính nguyên tắc hoạt động của BH là bảo vệ con người, vì con người. Điều này thể hiện ở những khía cạnh BH là chỗ dựa tâm lý cho người tham gia trong mọi lúc, mọi nơi và mọi hoàn cảnh. Khi đã tham gia BH, người tham gia sẽ yên tâm làm việc, mạnh dạn đầu tư, xóa bỏ tâm lý đắn đo khi chọn ngành nghề, cho dù đó là những ngành nghề nguy hiểm, độc hại.

Ngành BH hiện nay còn tạo ra khá nhiều việc làm cho nền kinh tế, góp phần giảm tải tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Theo số liệu thống kê ở Việt Nam, năm 2021, số lao động làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là gần 26 nghìn người. Số lao động làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại (BHTM) xấp xỉ 0,6 triệu người.

Còn theo ThS. Đào Trung Kiên - Phó Viện trưởng Viện Phát triển bảo hiểm Việt Nam, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), những khó khăn và thách thức của thị trường BH là tình hình biến đổi về thời tiết, khí hậu ngày càng khó dự đoán, trực tiếp ảnh hưởng đến các loại hình BH như BH nông nghiệp, BH tài sản, BH rủi ro thiên tai, BH nhân thọ...

Bên cạnh đó, số lượng sản phẩm BH hiện nay tuy nhiều song chưa đa dạng, đa số sản phẩm được thiết kế cố định, trọn gói, khó điều chỉnh, chia nhỏ theo nhu cầu đa dạng của bên mua BH, chủ yếu đáp ứng nhu cầu của bộ phận người dân có thu nhập cao. Kênh phân phối đại lý BH còn thiếu chuyên nghiệp. Thị trường BH vẫn còn hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh... Hệ thống pháp luật tuy được hoàn thiện, song một số quy định tại Luật Kinh doanh BH đã có độ trễ so với sự phát triển của thực tiễn.

Phát triển các loại hình bảo hiểm góp phần ổn định kinh tế - xã hội
PGS.TS Trương Thị Thủy - Phó Giám đốc Học viện Tài chính, phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Đức Việt

Hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

Để phát triển thị trường BH trong thời gian tới, ông Kiên cho rằng, cần nhằm vào các mục tiêu chủ yếu là hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về kinh doanh BH và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các quốc gia trong khu vực; tăng cường tính an toàn, bền vững và hiệu quả của thị trường và khả năng đáp ứng nhu cầu BH đa dạng của các tổ chức, cá nhân, góp phần ổn định nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội; tăng cường kết nối liên thông giữa BHXH và BHTM nhằm chia sẻ thông tin, phục vụ tốt hơn người dân và người tham gia...

Để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung, thị trường BH nói riêng sau tác động của dịch Covid-19, TS. Nguyễn Thị Hải Đường - Trưởng Bộ môn Kinh tế bảo hiểm, Khoa Bảo hiểm (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) khuyến nghị, cần có một chính sách khôi phục và phát triển kinh tế tổng thể, thúc đẩy sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế, đảm bảo sự vận hành liền mạch của tất cả các khâu. Trong chính sách này, BH cần được xác định là công cụ tài chính mang tính chất bảo vệ, bảo toàn về tài chính cho các thành phần kinh tế trước các nguy cơ rủi ro thiên tai và tai nạn bất ngờ, giảm thiểu sự đình trệ.

Khuyến khích các DNBH phát triển các sản phẩm BH nhóm cung cấp cho nhóm khách hàng BH, các sản phẩm BH nông nghiệp. Đây là các thị trường BH tiềm năng chưa được khai thác nhưng lại là những lĩnh vực có thể góp phần đảm bảo an sinh, giảm bớt gánh nặng cho các DN, người lao động và hỗ trợ phát triển ổn định khu vực nông nghiệp nông thôn.

Ngoài ra, cần thay đổi cơ chế quản lý vốn và hoạt động tài chính của DNBH để đảm bảo an toàn cho thị trường, DN và bảo vệ quyền lợi của khách hàng tham gia BH. Bên cạnh đó, cần xem xét áp dụng quản lý giám sát hoạt động kinh doanh của các DNBH theo hướng quản lý vốn trên cơ sở rủi ro…

Để giải quyết vấn đề kiểm soát chi phí trong hoạt động kinh doanh BH, giảm tỷ lệ kết hợp của các DNBH phi nhân thọ, gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ BH của người dân, cần có chính sách khuyến khích và thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh BH. Cơ quan quản lý cần có các hướng dẫn đối với việc phân phối sản phẩm BH trên các nền tảng thương mại điện tử; xây dựng các cơ sở dữ liệu chung của ngành theo các lĩnh vực BH phục vụ cho việc ban hành chính sách, cũng như là cơ sở kỹ thuật cho việc phát triển sản phẩm, định phí phù hợp với thực tế thị trường BH Việt Nam./.

Đức Việt

Đọc thêm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước mở thêm dư địa tín dụng cho 25 ngân hàng, khi không tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026. Cơ chế này tiếp nối chính sách tương tự đã áp dụng với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 16/09/2026, tại Hà Nội, Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai (Xuân Mai Corp) và Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) - Chi nhánh Thăng Long và Chi nhánh Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng, nâng tầm mối quan hệ hợp tác gắn bó suốt nhiều năm qua trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, mở ra hành trình bứt phá mạnh mẽ cho cả hai bên trong tương lai.
ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

(TBTCO) - Ngày 17/9/2026 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được trao giải “Giao dịch tài trợ thương mại tốt nhất dành cho doanh nghiệp SME” (Best SME Deal of the Year) tại Lễ trao giải lần thứ 12 của Chương trình Tài trợ Thương mại và Chuỗi cung ứng (Trade and Supply Chain Finance Program - TSCFP), thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), được tổ chức vào ngày 10/9/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▲70K 14,700 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▲70K 14,700 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▲70K 14,700 ▲70K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,010 ▲70K 14,610 ▲70K
Trang sức 99.99 14,020 ▲70K 14,620 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1284K 14,702 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1284K 14,703 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▲12K 1,466 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1257K 1,455 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,059 ▲1188K 144,059 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▲900K 109,286 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 893 ▼87591K 991 ▼97293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,114 ▲732K 88,914 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,185 ▲700K 84,985 ▲700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,103 ▼45426K 6,083 ▼54246K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cập nhật: 18/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17975 18249 18822
CAD 18058 18333 18950
CHF 30869 31246 31888
CNY 0 3839 3935
EUR 29214 29434 30510
GBP 33929 34318 35254
HKD 0 3183 3385
JPY 159 162 170
KRW 0 18 20
NZD 0 14554 15142
SGD 19838 20120 20689
THB 697 760 813
USD (1,2) 25736 0 0
USD (5,10,20) 25775 0 0
USD (50,100) 25803 25817 26183
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,269 29,292 30,682
JPY 161.95 162.24 172.05
GBP 34,119 34,211 35,392
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,242 18,301 18,978
CHF 31,153 31,250 32,174
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,803 3,948
HKD 3,248 3,258 3,394
KRW 17.33 18.07 19.66
THB 745.58 754.79 808.17
NZD 14,550 14,685 15,124
SEK - 2,603 2,695
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,714 2,810
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,944.07 - 6,709.13
TWD 736.89 - 892.77
SAR - 6,803.01 7,170.41
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26180
AUD 18150 18250 19175
CAD 18230 18330 19346
CHF 31116 31146 32719
CNY 3819.9 3844.9 3980.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31144
GBP 34223 34273 36025
HKD 0 3305 0
JPY 162.79 163.29 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19998 20128 20851
THB 0 726.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30