Sức ép đằng sau đà tăng của lãi suất huy động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê cho thấy trong 6 tuần qua, số lượng ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất vẫn áp đảo nhà băng giảm lãi suất, với mức tăng lên tới 0,9%/năm. Những yếu tố gây sức ép lên mặt bằng lãi suất tiết kiệm sắp tới đến từ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, vượt tốc độ huy động cùng thanh khoản của hệ thống ngân hàng có dấu hiệu căng thẳng.
aa
Lãi suất cho vay tiếp đà giảm 0,44%, song có thể đảo chiều tăng năm 2025 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Thông tin từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cho biết, trong 6 tuần qua (từ ngày 6/1- 14/2), bảng lãi suất của 36 ngân hàng ghi nhận ít sự biến động, với chỉ 7/36 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, 3 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất, 2 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn.

Lãi suất giảm nhỏ giọt hơn

Cụ thể, Eximbank tăng mạnh 0,9% kỳ hạn 9 tháng gửi tại quầy và online lên mức 5,2%/năm và 5,4%/năm. Các kỳ hạn từ 12-36 tháng online cũng tăng mạnh từ 0,4-1%/năm lên mức 5,6-6,6%/năm. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 6,6%/năm kỳ hạn 24-36 tháng online, cũng là mức cao nhất hệ thống với số tiền nhỏ hơn 200 tỷ đồng.

BVBank tăng 0,32% kỳ hạn 36 tháng tại quầy lên mức 6,32%/năm. Các kỳ hạn từ 15-24 tháng online tại ngân hàng này hiện được niêm yết mức lãi suất cao trong hệ thống là 6,25-6,45%/năm, cũng là mức cao nhất ở ngân hàng này.

Các ngân hàng tăng lãi suất còn lại với chỉ từ 0,1-0,3%/năm, gửi tại quầy và online bao gồm: BaoVietBank, Vietbank, Kienlongbank, VietABank, BIDV.

Sức ép đằng sau đà tăng của lãi suất huy động
Nguồn: Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA).

Lãi suất cao nhất 6,6%/năm gửi online kỳ hạn 24-36 tháng

Theo VNBA, với số tiền gửi nhỏ hơn 200 tỷ đồng, hiện mức lãi suất cao nhất hệ thống là 6,6%/năm tại Eximbank, kỳ hạn 24-36 tháng online. Ở kỳ hạn 6 tháng, hiện mức lãi suất cao nhất là 5,85%/năm, tại VCBNeo (trước đây là CBBank), gửi online. Ở kỳ hạn 9 tháng, 12 tháng, hiện mức lãi suất cao nhất tương ứng là 5,9%/năm, 6,25%/năm, đều tại GPBank gửi online.

Ở chiều ngược lại, có 3 ngân hàng giảm lãi suất nhỏ giọt hơn, từ 0,1-0,3%/năm các kỳ hạn từ 1-36 tháng, tại quầy và online, gồm: BacABank, NCB và TPBank.

Ngoài ra, có 2 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất với chỉ 0,1-0,2% các kỳ hạn 1-12 tháng, cả tại quầy và online, gồm: ABBank và Techcombank.

Còn với số tiền gửi "khủng" lớn hơn 200 tỷ đồng, thống kê của VNBA cho thấy, có 4 ngân hàng duy trì mức lãi suất lớn hơn 7%/năm.

Cụ thể, ở kỳ hạn 12-13 tháng gửi tại quầy, MSB niêm yết lãi suất 7%, 8% với số tiền trên 500 tỷ. Bên cạnh đó, lãi suất tại Vikki Bank (trước đây là DongABank) là 7,5% khi gửi trên 200 tỷ; HDBank có lãi suất lần lượt là 7,7% và 8,1% với trên 500 tỷ. Đặc biệt, PVCombank có lãi suất huy động lớn nhất, lên tới 9% khi gửi trên 2.000 tỷ.

Thanh khoản có dấu hiệu "căng"

Nhìn nhận yếu tố gây sức ép lên mặt bằng lãi suất tiết kiệm sắp tới, theo đánh giá của VNBA, sự phục hồi của hoạt động sản xuất và giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh trong năm 2025 sẽ là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, qua đó, sẽ gia tăng áp lực lên lãi suất huy động vốn.

Chia sẻ tại sự kiện Data Talk tháng 2 với chủ đề: “Đo lường nội lực: Thích ứng trước sóng gió vĩ mô” được tổ chức chiều ngày 18/2, ông Trần Ngọc Báu - chuyên gia kinh tế tài chính, Tổng Giám đốc WiGroup cũng cho rằng, lãi suất huy động ngân hàng sẽ chịu áp lực tăng, không phải vì chính sách tiền tệ của Việt Nam thắt chặt hay nới lỏng mà vì nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng không còn dồi dào như trước.

Sức ép đằng sau đà tăng của lãi suất huy động
Ông Trần Ngọc Báu - chuyên gia kinh tế tài chính, Tổng Giám đốc WiGroup.

Xuất hiện áp lực thanh khoản

"Về thanh khoản hệ thống ngân hàng, từ khoảng cuối năm 2024 đến đầu năm 2025, áp lực thanh khoản của ngân hàng đã có. Trong vòng 6 tháng vừa qua, lãi suất từ thị trường 1, thị trường 2 tăng trở lại, lợi suất trái phiếu cũng tăng trở lại, liên ngân hàng cũng tăng trở lại. Thậm chí, giai đoạn Tết vừa qua, trong trạng thái tỷ giá căng thẳng nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn phải bơm ra khoảng 170.000 tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản của thống ngân hàng kỳ hạn ngắn, để vượt qua giai đoạn Tết âm lịch. Điều này cho thấy thanh khoản của thống ngân hàng khá khan hiếm".

Vì vậy, theo đánh giá của vị chuyên gia này, áp lực về điều hành khung lãi suất lên nhà điều hành tại thời điểm hiện tại vẫn tương đối là cao và cấu trúc thị trường vẫn ở trạng thái không cân bằng.

Thống kê từ Tổng cục Thống kê cho thấy rõ thực trạng này khi gần cuối năm 2024, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,06%, tương ứng tăng 1,2 triệu tỷ đồng, lên gần 14,7 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, tốc độ tăng tín dụng bứt tốc hơn lên 13,82%, tương ứng tăng 1,9 triệu tỷ đồng, lên 15,4 triệu tỷ đồng.

Như vậy, tốc độ tăng trưởng huy động vốn vẫn thấp hơn đáng kể tăng trưởng tín dụng, kéo theo mức chênh lệch tín dụng và huy động lên hơn 700 nghìn đồng, đây cũng là năm thứ 3 liên tiếp lượng tiền ngân hàng cho vay vượt huy động.

"Ngân hàng phải huy động nguồn vốn từ khu vực khác để cho vay. Năm 2024, mặc dù tăng trưởng tín dụng sát mục tiêu nhưng cách khá xa tăng trưởng huy động. Giá trị tuyệt đối vênh nhau, tốc độ tăng trưởng tín dụng còn nhanh hơn tốc độ tăng trưởng huy động thì áp lực về nguồn vốn của hệ thống ngân hàng là hiện hữu" - ông Báu đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 25/5, tỷ giá trung tâm đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi chỉ số DXY duy trì quanh 99,24 điểm, tiến gần ngưỡng tâm lý 100 điểm. Đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất trước cuối năm, trong bối cảnh thị trường theo dõi sát diễn biến địa chính trị và áp lực lạm phát.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đã ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác toàn diện trong giai đoạn 2026 – 2027, hướng tới mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

(TBTCO) - Cục Hải quan vừa bổ sung Ngân hàng Bank of Communications (BOCOM) - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vào hệ thống phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN) và nộp thuế điện tử 24/7. Việc mở rộng thêm ngân hàng phối hợp thu giúp doanh nghiệp có thêm kênh thanh toán thuế nhanh chóng, giảm thời gian thông quan.
Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

(TBTCO) - Chuyển đổi số đang mở ra cách tiếp cận mới cho ngành bảo hiểm: không chỉ mở rộng kênh phân phối, mà còn giúp doanh nghiệp hiện diện đúng lúc, đúng nhu cầu và đúng bối cảnh trong hành trình tài chính của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 16,200
Kim TT/AVPL 15,900 16,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 16,200
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 16,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 15,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 162,000
Hà Nội - PNJ 159,000 162,000
Đà Nẵng - PNJ 159,000 162,000
Miền Tây - PNJ 159,000 162,000
Tây Nguyên - PNJ 159,000 162,000
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 162,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 16,200
Miếng SJC Nghệ An 15,900 16,200
Miếng SJC Thái Bình 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 16,200
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,390 16,090
Trang sức 99.99 15,400 16,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 16,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 16,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 1,616
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 160
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 158,416
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 120,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 108,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 9,776
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 93,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 66,877
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cập nhật: 26/05/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18354 18630 19206
CAD 18545 18822 19440
CHF 33075 33461 34097
CNY 0 3844 3936
EUR 30048 30321 31352
GBP 34757 35150 36084
HKD 0 3233 3435
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15159 15750
SGD 20090 20373 20899
THB 727 790 843
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26175 26392
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,162 26,162 26,392
USD(1-2-5) 25,116 - -
USD(10-20) 25,116 - -
EUR 30,256 30,280 31,540
JPY 161.84 162.13 170.93
GBP 35,006 35,101 36,102
AUD 18,594 18,661 19,263
CAD 18,786 18,846 19,433
CHF 33,397 33,501 34,294
SGD 20,268 20,331 21,011
CNY - 3,824 3,947
HKD 3,307 3,317 3,435
KRW 16.12 16.81 18.19
THB 776.68 786.27 836.69
NZD 15,191 15,332 15,697
SEK - 2,797 2,879
DKK - 4,049 4,167
NOK - 2,812 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,246.13 - 7,012.46
TWD 759.19 - 914.39
SAR - 6,926.08 7,252.83
KWD - 83,883 88,734
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,142 26,162 26,392
EUR 30,104 30,225 31,404
GBP 34,903 35,043 36,051
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,105 33,238 34,177
JPY 161.98 162.63 169.97
AUD 18,521 18,595 19,184
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 793 796 831
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,235 15,769
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26200 26200 26392
AUD 18535 18635 19563
CAD 18726 18826 19842
CHF 33309 33339 34931
CNY 3824.8 3849.8 3985.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30229 30259 31987
GBP 35057 35107 36870
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15267 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20248 20378 21109
THB 0 756.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,392
USD20 26,185 26,235 26,392
USD1 23,880 26,235 26,392
AUD 18,594 18,694 19,817
EUR 30,388 30,388 31,825
CAD 18,701 18,801 20,124
SGD 20,348 20,498 21,077
JPY 162.98 164.48 169.16
GBP 34,945 35,295 36,189
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,792 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80