Tăng lãi suất điều hành sẽ tác động tới lãi suất tiền gửi thế nào?

Duy Thái
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã chính thức tăng lãi suất điều hành thêm 100 điểm cơ bản, sau khi FED tăng lãi suất USD lên 0,75% và đưa ra quan điểm “diều hâu” về thắt chặt chính sách tiền tệ. Dự báo, lãi suất tiền gửi có thể tăng thêm 30 - 50 điểm cơ bản từ mức hiện tại vào cuối năm 2022.
aa

Đây là dự báo về lãi suất tiền gửi sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết định tăng lãi suất điều hành chiều muộn ngày 22/9/2022 của các chuyên gia của VNDIRECT Research, trong Báo cáo cập nhật vĩ mô “Tăng lãi suất điều hành và những tác động lên dự báo vĩ mô”.

Lãi suất điều hành tăng, “cửa hẹp” hơn với nới room tín dụng

Sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đưa ra quan điểm “diều hâu” hơn về thắt chặt chính sách tiền tệ trong cuộc họp tháng 9 vừa qua, đồng USD tiếp tục tăng giá mạnh và phá đỉnh 20 năm trên thị trường quốc tế.

Trước những diễn biến có phần bất lợi trên thị trường quốc tế, chiều ngày 22/9, NHNN Việt Nam đã quyết định tăng 100 điểm cơ bản đối với một loạt các lãi suất điều hành chủ chốt, trong đó lãi suất tái cấp vốn tăng từ mức 4% lên 5%, lãi suất tái chiết khấu tăng từ mức 2,5% lên 3,5% và trần lãi suất cho vay qua đêm và thanh toán bù trừ tăng từ 5% lên 6%. Các mức lãi suất mới sẽ chính thức áp dụng từ ngày 23/9/2022.

Tăng lãi suất điều hành sẽ tác động tới lãi suất tiền gửi thế nào?
"Chúng tôi có đôi chút bất ngờ về mức tăng 100 điểm cơ bản lãi suất điều hành (cao hơn so với dự báo trước đó của chúng tôi ở mức 50 điểm cơ bản cho năm 2022). Sau đợt tăng lãi suất lần này, chúng tôi cho rằng ít có khả năng có thêm một đợt tăng lãi suất điều hành nữa trong năm 2022" - Chuyên gia VNDIRECT Research nhận định.

Đánh giá về quyết định này, ông Đinh Quang Hinh – Trưởng Bộ phận Vĩ mô và Chiến lược thị trường, Khối Phân tích, Công ty Chứng khoán VNDIRECT (VNDIRECT Research) cho rằng, hành động trên của NHNN Việt Nam là tương đối quyết liệt và kịp thời trước những thay đổi nhanh chóng trên thị trường tài chính quốc tế.

“Tuy vậy, chúng tôi có đôi chút bất ngờ về mức tăng 100 điểm cơ bản lãi suất điều hành (cao hơn so với dự báo trước đó của chúng tôi ở mức 50 điểm cơ bản cho năm 2022). Sau đợt tăng lãi suất lần này, chúng tôi cho rằng ít có khả năng có thêm một đợt tăng lãi suất điều hành nữa trong năm 2022” – ông Đinh Quang Hinh cho hay.

Theo đại diện NHNN tính đến ngày 26/8, tín dụng đã tăng 9,9% so với cùng kỳ năm ngoái, đây là mức tăng cao nhất trong 5 năm qua và cao hơn nhiều so với mức tăng 7,9% của thời gian 8 tháng đầu năm 2021. Ngày 7/9, NHNN thông báo đã cấp thêm hạn mức tăng trưởng tín dụng cho một số ngân hàng thương mại. Cụ thể, khoảng 18 ngân hàng đã được cấp thêm hạn ngạch tăng trưởng tín dụng trong lần điều chỉnh này với mức tăng nằm trong phạm vi 0,7-4,0%. Chuyên gia của VNDIRECT Research ước tính rằng, khoảng 279 nghìn tỷ đồng vốn tín dụng sẽ được bổ sung cho nền kinh tế trong 4 tháng tới, tương đương với tăng trưởng tín dụng thêm khoảng 2,7%.

“Chúng tôi cho rằng NHNN đang ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô, đồng thời duy trì lãi suất cho vay thấp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và phục hồi của nền kinh tế. Do đó, chúng tôi nhận thấy khả năng NHNN nới thêm hạn mức tăng trưởng tín dụng trong năm nay là không cao” – Chuyên gia của VNDIRECT Research nhận định.

Lãi suất tiền gửi sẽ tiếp tục tăng trong chặng cuối năm 2022 và sang 2023

Theo số liệu từ VNDIRECT Research, tính tới ngày 14/9/2022, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng và lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân đã tăng mạnh lần lượt là 44 điểm và 51 điểm cơ bản so với thời điểm cuối năm 2021.

Trong khi đó, lãi suất tiền gửi tại các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước tăng chậm hơn đáng kể. Cụ thể, tính tới ngày 14/9/2022, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng và lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước mới tăng lần lượt là 3 diểm và 7 điểm cơ bản so với thời điểm cuối năm 2021.

Tăng lãi suất điều hành sẽ tác động tới lãi suất tiền gửi thế nào?

Các chuyên gia của VNDIRECT Research vẫn duy trì dự báo lãi suất tiền gửi sẽ tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm 2022. Ông Đinh Quang Hinh đưa ra các yếu tố để lý giải cho điều này: (1) NHNN có thể nâng lãi suất điều hành trong những tháng cuối năm 2022; (2) NHNN đã chính thức cấp thêm giới hạn tăng trưởng tín dụng cho một số ngân hàng thương mại kể từ đầu tháng 9, dẫn đến sự gia tăng nhu cầu vốn của các ngân hàng thương mại; (3) Tăng trưởng tiền gửi có tốc độ chậm trong 7 tháng đầu năm 2022 (+4,2% so với đầu năm, +9,9% so với cùng kỳ) do lãi suất tiền gửi kém hấp dẫn hơn so với các kênh đầu tư khác; (4) FED dự kiến sẽ tăng lãi suất điều hành lên mức 4,25 - 4,5% vào cuối năm 2022; (5) USD mạnh hơn gây áp lực lên tỷ giá hối đoái và lãi suất của Việt Nam.

“Chúng tôi dự báo lãi suất tiền gửi có thể tăng thêm 30 - 50 điểm cơ bản từ mức hiện tại trong những tháng cuối năm 2022. Theo đó, lãi suất tiền gửi 12 tháng của ngân hàng thương mại (bình quân) tăng lên mức 6,1 - 6,3%/năm vào cuối năm 2022, vẫn thấp hơn so với mức trước đại dịch là 7,0%/năm” - chuyên gia của VNDIRECT Research dự báo.

Sang năm 2023, các chuyên gia của VNDIRECT Research cho rằng, đà tăng lãi suất tiền gửi sẽ duy trì. Nguyên nhân là do NHNN tăng lãi suất điều hành để kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá; đồng thời, các ngân hàng thương mại tăng nhu cầu huy động vốn để tài trợ cho hoạt động cho vay trong bối cảnh nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ.

“Chúng tôi dự báo lãi suất huy động có thể tăng thêm 50 điểm cơ bản trong năm 2023, theo đó lãi suất tiền gửi 12 tháng của ngân hàng thương mại (bình quân) tăng lên mức 6,6 - 6,8/năm vào cuối năm 2023, vẫn thấp hơn so với mức trước đại dịch là 7,0%/năm” – Chuyên gia của VNDIRECT Research dự báo thêm./.

Cần đẩy mạnh triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2%

Gói cấp bù lãi suất 2% nằm trong gói kích thích kinh tế theo Nghị quyết 43 của Quốc hội và Nghị định 31 của Chính phủ. Quy mô hỗ trợ lên đến 40.000 tỷ đồng, dành cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Có khoảng 10 nhóm ngành chính sẽ được hỗ trợ, bao gồm hàng không; du lịch; vận tải và kho bãi; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; chế biến chế tạo. Theo NHNN, ước tính đến hết tháng 8, gói hỗ trợ này mới chỉ giải ngân được 13,5 tỷ đồng, tương đương chưa đến 0,1% kế hoạch giải ngân trong năm 2022. Việc triển khai gói cấp bù lãi suất 2% đang rất chậm so với kế hoạch của Chính phủ.

Đánh giá về điều này, các chuyên gia của VNDIRECT Research cho rằng, cần triển khai nhanh hơn gói hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp để góp phần kìm đà tăng của lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp. Điều này là hết sức cần thiết trong bối cảnh lãi suất điều hành và lãi suất tiền gửi có thể tiếp tục tăng cao hơn trong những tháng tới, gây sức ép lên mặt bằng lãi suất cho vay. Nếu được triển khai tốt, gói cấp bù lãi suất 2% có thể giúp giảm lãi suất cho vay trung bình 20 - 40 điểm cơ bản và bù đắp phần nào việc tăng lãi suất do sức ép từ việc tăng lãi suất huy động. VNDIRECT Research dự báo lãi suất cho vay có thể ổn định ở vùng thấp trong những tháng cuối năm 2022 trước khi áp lực lãi suất huy động kéo mặt bằng lãi suất cho vay tăng khoảng 60 - 80 điểm cơ bản (bình quân) trong năm 2023.

Duy Thái

Đọc thêm

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,700 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,750 ▲150K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18217 18492 19068
CAD 18617 18894 19511
CHF 32834 33219 33855
CNY 0 3832 3924
EUR 29993 30266 31291
GBP 34523 34915 35860
HKD 0 3234 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15084 15666
SGD 20033 20315 20838
THB 723 786 839
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,149 26,149 26,389
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,236 30,260 31,531
JPY 161.58 161.87 170.75
GBP 34,787 34,881 35,889
AUD 18,505 18,572 19,173
CAD 18,866 18,927 19,518
CHF 33,217 33,320 34,117
SGD 20,213 20,276 20,966
CNY - 3,812 3,936
HKD 3,306 3,316 3,436
KRW 16.16 16.85 18.23
THB 771.95 781.48 832.43
NZD 15,143 15,284 15,654
SEK - 2,763 2,845
DKK - 4,046 4,166
NOK - 2,805 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,212.73 - 6,975.83
TWD 753.13 - 907.44
SAR - 6,921.2 7,250.88
KWD - 83,808 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26389
AUD 18396 18496 19421
CAD 18796 18896 19910
CHF 33070 33100 34687
CNY 3812.1 3837.1 3972.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30173 30203 31925
GBP 34830 34880 36633
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21049
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,183 26,233 26,389
USD20 26,183 26,233 26,389
USD1 26,183 26,233 26,389
AUD 18,498 18,598 19,705
EUR 30,356 30,356 31,765
CAD 18,769 18,869 20,176
SGD 20,275 20,425 21,265
JPY 162.6 164.1 168.65
GBP 34,702 35,052 35,914
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80