Số hóa và xanh hóa sẽ tái định vị ngành ngân hàng

Thu Hương
(TBTCO) - Đổi mới sáng tạo và số hóa đang tái định hình ngành ngân hàng, mở ra cơ hội cho cả ngân hàng lớn và nhỏ trong cuộc đua tăng trưởng bền vững.
aa
Top những ngân hàng "bơm" vốn mạnh nhất hệ thống nửa đầu năm Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn

Ngân hàng trong cuộc đua số

Một cuộc chơi hoàn toàn mới đang định hình lại bản đồ cạnh tranh của ngành ngân hàng Việt Nam. Nếu trước đây, lợi thế phần lớn được xác lập bởi quy mô tổng tài sản hay độ phủ mạng lưới chi nhánh, thì hiện tại, cán cân đang nghiêng rõ rệt về phía những ngân hàng có khả năng đổi mới, nhạy bén với công nghệ, linh hoạt trong chiến lược và chủ động nắm bắt các xu hướng mang tính cấu trúc như chuyển đổi số và tài chính xanh.

Trước bối cảnh thay đổi toàn diện này, nhiều chuyên gia cho rằng, ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tái định hình sâu rộng. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân – Giám đốc Chương trình Đào tạo thị trường chứng khoán, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhận định, trong môi trường cạnh tranh công bằng hơn, không phải ngân hàng lớn nào cũng giữ được vị trí dẫn đầu, và cũng không ngân hàng nhỏ nào bị loại khỏi cuộc đua nếu biết tận dụng sức mạnh công nghệ và lựa chọn đúng chiến lược thị trường. Theo ông Huân, có hai trục chiến lược chính đang chi phối xu hướng phát triển của ngành ngân hàng: số hóa và xanh hóa.

Số hóa và xanh hóa sẽ tái định vị ngành ngân hàng
Chuyển đổi số đang trở thành trụ cột chiến lược trong tái cấu trúc ngành ngân hàng. Ảnh minh hoạ.

Trên phương diện số hóa, các ngân hàng Việt Nam đang chứng kiến một làn sóng chuyển mình mạnh mẽ – từ hạ tầng công nghệ, quy trình vận hành cho đến mô hình phục vụ khách hàng. Sự dịch chuyển này không chỉ nhằm cắt giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để tối ưu hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

“Mô hình chi nhánh truyền thống với hàng trăm nhân sự đang dần nhường chỗ cho các chi nhánh công nghệ cao – nơi chỉ cần vài chục người nhưng vẫn phục vụ được hàng nghìn khách hàng mỗi ngày, nhờ ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và tự động hóa quy trình” - ông Huân nhận định.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, với chủ trương rõ ràng của Chính phủ trong việc phát triển TP. Hồ Chí Minh thành trung tâm tài chính quốc tế, nhiều ngân hàng đang chủ động chuẩn bị nền tảng để đón đầu dòng vốn toàn cầu.

Song hành với quá trình số hóa là xu hướng xanh hóa, một yêu cầu tất yếu khi Việt Nam cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Theo ông Huân, trong bối cảnh này, các ngân hàng giữ vai trò trung gian huy động và phân bổ dòng vốn vào các lĩnh vực kinh tế xanh như năng lượng tái tạo, giao thông sạch, xây dựng bền vững hay nông nghiệp tuần hoàn.

“Hiện tại, dư nợ tín dụng xanh vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ toàn ngành, nhưng đây được xem là một “đại dương xanh” với tiềm năng lớn, đặc biệt cho các ngân hàng quy mô nhỏ vốn có khả năng xoay chuyển chiến lược nhanh và dễ tiếp cận các thị trường ngách” – ông Huân đánh giá.

Dù vậy, cơ hội luôn đi kèm rủi ro. Ông Huân lưu ý rằng, hầu hết các dự án xanh hiện nay đều là mô hình thí điểm, lần đầu triển khai, dẫn đến thiếu dữ liệu tham chiếu, thiếu kinh nghiệm thẩm định và nhiều trường hợp chậm thu hồi vốn – như đã từng xảy ra với một số dự án điện gió.

“Để đi đường dài, các ngân hàng buộc phải xây dựng năng lực quản trị rủi ro bài bản hơn, phát triển bộ tiêu chí đánh giá phù hợp với chuẩn ESG, đồng thời hỗ trợ khách hàng trong việc đáp ứng các yêu cầu về minh bạch môi trường, xã hội và quản trị,” ông Huân nhấn mạnh.

Trong khi các ngân hàng nhỏ tìm kiếm cơ hội bứt phá thông qua chuyển đổi số và tài chính xanh, thì các ngân hàng lớn lại hướng đến một “sân chơi” ở tầm cao hơn, đó là tham gia vào quá trình hình thành các trung tâm tài chính quốc tế.

“Nếu thành công, quy mô thị trường sẽ mở rộng gấp nhiều lần, không chỉ giúp các ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn tạo thêm kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế trong nước” - ông Huân kỳ vọng.

Linh hoạt để bứt phá

Dưới góc nhìn chiến lược, nhiều chuyên gia khác cũng nhấn mạnh vai trò cốt lõi của công nghệ trong toàn bộ tiến trình tái cấu trúc ngành ngân hàng. Ông Lê Hoài Ân – chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngành ngân hàng cho rằng, chính khả năng ứng dụng công nghệ sẽ trở thành thước đo năng lực cạnh tranh mới của các ngân hàng, thậm chí vượt lên trên cả quy mô tài sản hay vốn điều lệ. Theo ông Ân, thời gian tới sẽ chứng kiến một làn sóng tái cơ cấu toàn ngành xoay quanh ba yếu tố: đổi mới sáng tạo, tích hợp dữ liệu và khả năng thích ứng nhanh với biến động.

Số hóa và xanh hóa sẽ tái định vị ngành ngân hàng

Công nghệ trở thành thước đo mới cho năng lực cạnh tranh của ngành ngân hàng. Ảnh: Báo Chính phủ.

Cũng theo ông Ân, trong bối cảnh mới, các ngân hàng nhỏ hoàn toàn có thể tận dụng lợi thế linh hoạt của mình bằng cách chọn đúng phân khúc khách hàng và khu vực địa lý phù hợp. Với tổng tài sản chỉ khoảng 200.000 tỷ đồng, một ngân hàng nhỏ chỉ cần tăng trưởng thêm 20.000 tỷ đồng là đã đạt được một nửa kế hoạch cả năm - một mục tiêu hoàn toàn khả thi nếu họ tập trung phục vụ tốt 50 - 70 doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực tài chính ổn định.

“Tập trung vào ngách hiệu quả, khai thác thị trường địa phương chưa được phục vụ đầy đủ là một chiến lược thực dụng nhưng bền vững trong thời kỳ thị trường biến động nhanh và cạnh tranh gay gắt” - ông Ân cho biết.

Song song với việc tái cấu trúc nội tại, các ngân hàng cũng phải chủ động thích ứng với những thay đổi từ bên ngoài - đặc biệt là xu hướng điều chỉnh quy hoạch kinh tế vùng và sự dịch chuyển dòng vốn. Nhiều địa phương đang thay đổi mô hình tăng trưởng, khiến cấu trúc kinh tế chuyển dịch đáng kể.

Từ Tây Nguyên đến Bắc Trung Bộ - những khu vực từng được xem là “vùng trũng” về công nghiệp, nay đang nổi lên với các khu công nghiệp, hạ tầng logistics và dịch vụ công nghệ. Điều này buộc các ngân hàng phải đánh giá lại “dung sai thị trường”, xác định lại ngành ưu tiên cấp tín dụng, thậm chí sẵn sàng từ bỏ các mảng vốn đang hoạt động hiệu quả nếu không còn phù hợp với định hướng mới của địa phương./.

Thu Hương

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼100K 13,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼100K 13,450 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 ▼100K 14,490 ▼100K
Trang sức 99.99 13,800 ▼100K 14,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17917 18497
CAD 17980 18255 18870
CHF 31790 32171 32813
CNY 0 3829 3922
EUR 29279 29499 30574
GBP 33914 34304 35235
HKD 0 3227 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14567 15155
SGD 19757 20038 20604
THB 704 767 820
USD (1,2) 26065 0 0
USD (5,10,20) 26106 0 0
USD (50,100) 26135 26149 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26451
AUD 17859 17959 18887
CAD 18170 18270 19285
CHF 32083 32113 33695
CNY 3816.5 3841.5 3976.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31235
GBP 34223 34273 36033
HKD 0 3355 0
JPY 159.37 159.87 170.4
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14703 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19909 20039 20767
THB 0 734 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,101 26,451
USD20 26,150 26,101 26,451
USD1 23,933 26,101 26,451
AUD 17,908 18,008 19,132
EUR 29,634 29,634 31,053
CAD 18,121 18,221 19,535
SGD 19,990 20,140 20,708
JPY 159.87 161.37 166
GBP 34,124 34,474 35,349
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80