Thanh toán khám chữa bệnh BHYT: Không có sự phân biệt giữa bệnh viện công và tư

Hà My
(TBTCVN) - Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam Phạm Lương Sơn cho biết, việc khuyến khích bệnh viện tư nhân tham gia vào khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (KCB BHYT) là chủ trương chung của BHXH Việt Nam từ nhiều năm nay, nhằm mục đích mở rộng lựa chọn cho người dân.
aa

Khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Hùng Vương - Phú Thọ. Ảnh: BVĐK Hùng Vương

Khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Hùng Vương - Phú Thọ. Ảnh: BVĐK Hùng Vương

Đồng thời, không có sự phân biệt giữa bệnh viện (BV) công và tư trong thanh toán KCB BHYT.

Đã ký hợp đồng với hơn 600 cơ sở y tế tư nhân

Tại cuộc đối thoại tìm cách tháo gỡ vướng mắc trong KCB BHYT tại cơ sở y tế tư nhân diễn ra gần đây, ông Phạm Lương Sơn cho biết, nếu như năm 2015 mới chỉ có hơn 200 cơ sở y tế tư nhân tham gia KCB BHYT thì năm 2018 là 647 cơ sở. Năm 2016, Quỹ BHYT đã thanh toán 6.618 tỷ đồng cho 17 triệu lượt KCB BHYT trong các cơ sở y tế tư nhân. Năm 2017, con số tương tự là 8.645 tỷ đồng (xấp xỉ 10% tổng chi BHYT cả nước) cho 24,8 triệu lượt người KCB.

Phản hồi ý kiến của Hiệp hội BV tư nhân Việt Nam về tình trạng chậm thanh, quyết toán, tạm ứng chi phí khám, chữa bệnh BHYT đối với các BV tư nhân, Phó Tổng giám đốc Phạm Lương Sơn cho biết, sau khi nhận được báo cáo quyết toán đề nghị thanh toán chi phí KCB của cơ sở y tế, cơ quan BHXH có 30 ngày thực hiện giám định. Sau 5 ngày, kể từ khi có kết quả giám định, cơ quan BHXH sẽ thực hiện thanh toán chi phí KCB cho cơ sở y tế. Do đó, nếu cơ sở y tế không có báo cáo quyết toán kịp thời, sẽ không thể thực hiện được thủ tục thanh toán.

Ông Lê Văn Phúc, Phó Trưởng ban phụ trách Ban Thực hiện chính sách BHYT (BHXH Việt Nam) cho biết, nguyên nhân gây chậm trễ trong thực hiện thanh, quyết toán cũng như tạm ứng là do bên giám định BHYT và cơ sở y tế tư nhân mất nhiều thời gian thống nhất kết quả giám định. Do đó, các cơ sở y tế tư nhân cần kết nối và thực hiện nghiêm quy định về chuyển dữ liệu lên Hệ thống thông tin giám định BHYT của BHXH Việt Nam, để kịp thời thực hiện thủ tục thanh toán, cũng như chủ động xác định được tình trạng báo cáo quyết toán của mình.

Liên quan đến vấn đề Hiệp hội BV tư nhân phản ánh có sự phân biệt công lập và tư nhân khi thanh toán BHYT đối với các kỹ thuật KCB vượt tuyến, ông Phạm Lương Sơn khẳng định, không hề có sự phân biệt giữa bệnh viện công và tư. Nếu BV tuyến dưới thực hiện được dịch vụ y tế tuyến trên đã được Bộ Y tế phê duyệt thì sẽ được BHYT thanh toán. Làm rõ thêm vấn đề này, ông Lê Văn Phúc nhấn mạnh: “Không có cơ sở y tế nào có danh mục vật tư y tế đã được phê duyệt trong phạm vi chuyên môn và giá dịch vụ lại không được thanh toán, hay yêu cầu BV phải nâng hạng mới được phê duyệt thực hiện kỹ thuật này”.

Không phân biệt giữa BV tư nhân và BV công lập

Hiệp hội BV tư nhân cho rằng, quy định ràng buộc về điều kiện thanh toán chi phí KCB BHYT trong các ngày nghỉ lễ, thứ bảy và chủ nhật; định mức kinh tế kỹ thuật của dịch vụ kỹ thuật (số giường bệnh, số bệnh nhân/bàn khám...) đang gây nhiều khó khăn cho cơ sở y tế, không tăng năng suất lao động.

Trước phản ánh này, ông Phạm Lương Sơn khẳng định, việc thanh toán chi phí KCB BHYT trong các ngày nghỉ, ngày lễ được BHXH thực hiện theo đúng quy định trong Thông tư 16/2015/TTLT-BYT-BTC, không có sự phân biệt giữa loại hình công lập hay tư nhân. Theo đó, hoạt động của các cơ sở KCB đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về lao động và thời gian lao động. Do vậy các cơ sở y tế quyết định có hoặc không tổ chức KCB BHYT phải dựa trên khả năng cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu KCB cho người dân. Trường hợp cơ sở y tế có tổ chức KCB BHYT vào ngày nghỉ, ngày lễ phải thông báo cho cơ quan BHXH để bổ sung vào hợp đồng KCB trước khi thực hiện.

Cho ý kiến tại buổi đối thoại về nội dung này, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam yêu cầu Bộ Y tế và Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi Thông tư 16/2015/TTLT-BYT-BTC về việc KCB ngày lễ, ngày nghỉ theo hướng tạo điều kiện cho cả cơ sở y tế và người bệnh, giúp BV chủ động bố trí nhân lực. Đồng thời, có thể quy định cơ sở y tế chỉ cần thông báo cho cơ quan BHXH về hoạt động KCB ngoài giờ mà không cần phải đợi xác nhận đồng ý khi mọi cơ sở y tế phải tham gia vào Hệ thống thông tin giám định BHYT của BHXH Việt Nam, để đảm bảo giám sát chi phí hiệu quả.

Về định mức kỹ thuật, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết, định mức kỹ thuật quy định một bàn khám bao nhiêu bệnh nhân, siêu âm bao nhiêu ca… là điều kiện để đảm bảo chất lượng KCB cho mỗi bệnh nhân. Nếu cùng thời gian mà khám quá nhiều lượt thì chất lượng KCB liệu có bảo đảm? Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế, BHXH Việt Nam xem xét lại các quy định và lưu ý, có thể điều chỉnh để phát huy sáng tạo của các cơ sở y tế nhưng không làm giảm chất lượng KCB.

Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh, về lâu dài, BV phải quan tâm nâng cao chất lượng KCB, không chỉ tăng số lượt lên để tính tiền. Nếu cả BV công và BV tư đều “năng động” tăng năng suất lao động bằng cách tạo ra đủ thứ khuyến mại để người dân khám thật nhiều, thì đều phải xử lý nghiêm. Đây là vấn đề mà Bộ Y tế và BHXH Việt Nam phải xem xét, điều chỉnh, để một mặt tạo điều kiện cho các cơ sở y tế cả công và tư phát triển, nhưng mặt khác phải tránh tình trạng khám qua loa, tận dụng máy móc đã đầu tư...

Hà My

Hà My

Đọc thêm

KienlongBank: Lợi nhuận quý I tăng trưởng 50%, chi phí vận hành giảm 30%

KienlongBank: Lợi nhuận quý I tăng trưởng 50%, chi phí vận hành giảm 30%

(TBTCO) - Quy mô mở rộng, lợi nhuận bứt phá và chi phí vận hành được tối ưu hóa tối đa là những dấu ấn đậm nét trong bức tranh kinh doanh quý I/2026 của KienlongBank. Với lợi nhuận tăng trưởng 50% cùng bộ chỉ số sinh lời khả quan, Ngân hàng đang tự tin bám sát lộ trình mục tiêu, khẳng định vị thế bền vững trên thị trường tài chính.
Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35%; dư nợ tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 34%. Cùng với kế hoạch nâng vốn lên 100.000 tỷ đồng để củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng cũng đẩy nhanh triển khai CAEX, kỳ vọng sớm vận hành và mở rộng sang lĩnh vực tài sản mã hóa.
Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

(TBTCO) - Trước diễn biến phức tạp của các dịch bệnh truyền nhiễm và nhu cầu di chuyển tăng cao dịp đại lễ, Bảo hiểm Quân đội (MIC) triển khai chương trình ưu đãi lớn tặng voucher lên đến 25% từ ngày 25/4 đến 03/5/2026. Đây là giải pháp thiết thực giúp khách hàng thiết lập "lá chắn" tài chính vững chắc ngay trên ứng dụng bảo hiểm số.
PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

(TBTCO) - PTI trình cổ đông kế hoạch kinh doanh 2026 theo hướng thận trọng, đồng thời đề xuất phương án tăng vốn hơn 600 tỷ đồng nhằm củng cố nền tảng tài chính và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động thị trường.
Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến hết tháng 3/2026, tỉnh Gia Lai có 693 công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh…chậm đóng trên 6 tháng các khoản bảo hiểm của hơn 3.000 lao động với số tiền hơn 133 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, giá vàng miếng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 900.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi về vùng 167,2 - 169,7 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Kim TT/AVPL 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,670 ▼90K 16,970 ▼90K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼90K 16,760 ▼90K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼90K 16,710 ▼90K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼90K 16,690 ▼90K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Hà Nội - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Miền Tây - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 ▼60K 16,890 ▼60K
Trang sức 99.99 16,200 ▼60K 16,900 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,675 ▼6K 17,002 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,675 ▼6K 17,003 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,673 ▼6K 1,698 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,673 ▼6K 1,699 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,653 ▼6K 1,683 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,134 ▼594K 166,634 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,488 ▼450K 126,388 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,705 ▼408K 114,605 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,923 ▼366K 102,823 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,379 ▼350K 98,279 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,438 ▼250K 70,338 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Cập nhật: 22/04/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18305 18581 19162
CAD 18739 19017 19635
CHF 33033 33419 34068
CNY 0 3820 3913
EUR 30284 30559 31584
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15244 15834
SGD 20125 20408 20936
THB 733 796 850
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26144 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,355
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,486 30,510 31,783
JPY 161.26 161.55 170.33
GBP 35,041 35,136 36,141
AUD 18,577 18,644 19,237
CAD 18,968 19,029 19,618
CHF 33,428 33,532 34,318
SGD 20,312 20,375 21,049
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,303 3,313 3,432
KRW 16.47 17.18 18.59
THB 783.51 793.19 843.82
NZD 15,275 15,417 15,779
SEK - 2,834 2,917
DKK - 4,079 4,199
NOK - 2,784 2,865
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.33 - 7,002.05
TWD 757.38 - 912.23
SAR - 6,915.97 7,242.74
KWD - 83,818 88,667
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 30,342 30,464 31,647
GBP 34,932 35,072 36,081
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,126 33,259 34,203
JPY 161.40 162.05 169.35
AUD 18,495 18,569 19,164
SGD 20,315 20,397 20,981
THB 797 800 835
CAD 18,921 18,997 19,574
NZD 15,293 15,827
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26215 26215 26355
AUD 18484 18584 19507
CAD 18923 19023 20034
CHF 33282 33312 34890
CNY 3796.9 3821.9 3957.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30456 30486 32212
GBP 35065 35115 36873
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15347 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20285 20415 21137
THB 0 761.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17000000
SBJ 15000000 15000000 17000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,355
USD20 26,150 26,200 26,355
USD1 23,845 26,200 26,355
AUD 18,537 18,637 19,762
EUR 30,597 30,597 32,026
CAD 18,867 18,967 20,283
SGD 20,359 20,509 21,088
JPY 162.2 163.7 168.36
GBP 34,935 35,285 36,430
XAU 16,808,000 0 17,062,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/04/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80