Thị trường tiền tệ tuần qua (14-18/11): Lãi suất huy động nóng, nhưng lãi suất thị trường mở giảm, tỷ giá hạ nhiệt

Chí Tín
(TBTCO) - Trong tuần qua, tỷ giá đã có xu hướng giảm nhiệt với nhiều tín hiệu giảm giá nhẹ của đồng USD so với đồng nội tệ. Trong khi đó, lãi suất có những diễn biến trái chiều với xu hướng lãi suất huy động tiếp tục tăng tại một số ngân hàng, nhưng điều đáng chú ý là lãi suất bán tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) qua thị trường mở lại giảm.
aa

Tỷ giá hạ nhiệt và giảm nhẹ

Tuần vừa qua chứng kiến một giai đoạn hạ nhiệt của tỷ giá. Đây là tuần thứ hai liên tiếp Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có động thái giảm tỷ giá tham khảo bán ra. Cụ thể, tỷ giá tham khảo đã giảm 10 đồng mỗi USD từ 24.860 đồng/USD xuống 24.850 đồng/USD.

Tỷ giá USD trung tâm trong tuần đã có nhiều phiên điều chỉnh giảm, cùng với một số phiên được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên. Tại phiên cuối tuần, tỷ giá USD trung tâm là 23.675 đồng/USD, giảm 8 đồng mỗi USD so với trước đó 1 tuần.

Thông tin tích cực về tình hình nhập siêu tăng vẫn là yếu tố hỗ trợ cho tỷ giá. Trong khi đó, diễn biến ổn định của tỷ giá kể từ đầu tháng 11 đến nay giúp giải tỏa tâm lý găm giữ USD trong doanh nghiệp và nhà đầu tư. Theo đó, nhu cầu mua ngoại tệ đã có phần sụt giảm hơn so với trước khiến tỷ giá có chiều hướng đi xuống trong giai đoạn giữa tháng 11.

Thị trường tiền tệ tuần qua (14-18/11): Lãi suất huy động nóng, nhưng lãi suất thị trường mở giảm, tỷ giá hạ nhiệt
Một số ngân hàng vẫn tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi. Ảnh: T.L

Lãi suất huy động vẫn tăng nhiệt

Trái ngược với diễn biến hạ nhiệt của tỷ giá, lãi suất vẫn tiếp tục tăng nhiệt trong tuần vừa qua với động thái tiếp tục tăng lãi suất huy động tại một số ngân hàng thương mại.

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) lại tiếp tục cập nhật biểu lãi suất huy động mới dành cho khách hàng cá nhân, với nhiều mức lãi suất tiếp tục tăng so với trước. Ngân hàng Standard Chartered thậm chí giới thiệu với khách hàng mức lãi suất kỷ lục lên tới 14%/năm, tuy nhiên, khách hàng phải tham gia mua bảo hiểm mới được hưởng mức lãi suất này.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cũng mới cập nhật bảng lãi suất mới cao hơn trước ở một số kỳ hạn; còn Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) thậm chí đưa lãi suất cao nhất lên tới 9,75% với tiền gửi onlines kỳ hạn từ 13 tháng trở lên. Hiện nay, nhiều ngân hàng đã đưa lãi suất kỳ hạn 1 tháng lên mức khá cao, chạm mốc 6%/năm.

Lãi suất thị trường mở giảm

Trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước cũng thực hiện các nghiệp vụ mua và bán tín phiếu trên thị trường mở. Lãi suất trúng thầu tín phiếu mua vào thường khá ổn định ở mức 6%/năm, trong khi lãi suất tín phiếu bán ra có xu hướng giảm.

Thị trường tiền tệ tuần qua (14-18/11): Lãi suất huy động nóng, nhưng lãi suất thị trường mở giảm, tỷ giá hạ nhiệt
Open Market Operations (OMO) - Thị trường mở là một trong những công cụ của Ngân hàng Nhà nước để điều tiết thị trường tiền tệ. Ảnh: T.L

Phó Thống đốc làm Tổ phó Tổ công tác tháo gỡ khó khăn thị trường bất động sản

Tuần vừa qua, một trong những thông tin đáng chú ý là việc Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành đã ký quyết định thành lập Tổ công tác tháo gỡ khó khăn thị trường bất động sản. Tổ công tác có 8 thành viên, trong đó ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được giao làm tổ phó tổ công tác.

Việc Ngân hàng Nhà nước đã có một số phiên thực hiện đấu thầu bán ra tín phiếu và động thái này có tác động hút bớt tiền về, ngược lại các hoạt động mua tín phiếu có tác dụng bơm thêm tiền ra lưu thông.

Ở chiều bán ra, trong phiên đấu thầu 15/11, Ngân hàng Nhà nước đấu thầu bán hẳn tín phiếu kỳ hạn 28 tháng, hút về gần 20 nghìn tỷ đồng; phiên 16/11 bán hẳn gần 10 nghìn tỷ đồng tín phiếu 28 tháng, hút về gần 10 nghìn tỷ đồng; phiên 17/11 bán 5.000 tỷ đồng tín phiếu, hút về 5 nghìn tỷ đồng.

Lãi suất bán tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước có xu hướng giảm, với kết quả trúng thầu là 6% tín phiếu bán ra trong phiên đấu thầu 15/11, giảm xuống còn 5,8% trong phiên đấu thầu ngày 16/11 và tiếp tục giảm xuống chỉ còn 5,49% vào phiên 17/11. Đáng chú ý trong phiên đấu thầu tín phiếu kỳ hạn 28 tháng diễn ra hôm 17/11, chỉ có 2 thành viên trúng thầu (trong số 6 thành viên tham gia dự thầu).

Cùng với việc bán tín phiếu, Ngân hàng Nhà nước cũng vẫn thực hiện các đợt mua kỳ hạn tín phiếu trong phần lớn các phiên đấu thầu tín phiếu tuần qua và động thái này cũng có tác dụng điều tiết đưa thêm tiền vào lưu thông.

Giá vàng tăng trong trạng thái ngập ngừng

Giá vàng trong tuần qua tuy được hậu thuẫn bởi những thông tin tích cực hơn từ tình hình lạm phát trên thế giới đã bớt căng thẳng, nhưng các nhà đầu tư vẫn còn ngập ngừng nghe ngóng những động thái tiếp theo của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED).

Trong phiên mở đầu tuần, ngày 14/11, giá vàng trong nước trụ vững tương tự mặt bằng giá cuối tuần trước, ghi nhận giá vàng Phú Quý SJC đang mua vào mức 66,6 triệu đồng/lượng và bán ra mức 67,6 triệu đồng/lượng.

Ngày 15/11, giá vàng giảm nhẹ, nhưng sau đó lại quay đầu tăng trong ngày tiếp theo và chỉ biến động nhẹ trong các ngày còn lại trong tuần. Cuối tuần, giá vàng SJC ở khu vực Hà Nội và Đà Nẵng đang là 66,7 triệu đồng/lượng mua vào và 67,72 triệu đồng/lượng bán ra. Theo đó, giá vàng hôm cuối tuần đã cao hơn khoảng 100 nghìn đồng/lượng.

Thị trường vàng vẫn dõi theo những biến động trên thị trường tài chính quốc tế. Mặc dù lạm phát hạ nhiệt là thông tin tích cực trong tuần trước, nhưng quan điểm của FED vẫn chưa cho thấy sẽ dừng lại chuỗi các chính sách cứng rắn về lãi suất. Một số chuyên gia quốc tế kỳ vọng rằng lãi suất của FED sẽ đạt 5,5% vào giữa năm 2023 và sẽ không có đợt nới lỏng nào cho cuối năm 2023. Điều này khiến các nhà đầu tư nhìn chung sẽ vẫn ít quan tâm đến vàng, ít nhất là trong những tháng đầu năm 2023.

Kết nối thanh toán Việt Nam – Thái Lan

Một trong những sự kiện đáng chú ý trong tuần qua là việc Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Kim Anh cùng Phó Thống đốc Ngân hàng trung ương (NHTW) Thái Lan Ronadol Numnonda thực hiện trải nghiệm dịch vụ thanh toán xuyên biên giới bằng mã QR.

Dự án này được Ngân hàng Nhà nước và NHTW Thái Lan phối hợp thực hiện từ năm 2020, thông qua hai đầu mối là Công ty Cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) và Công ty chuyển mạch quốc gia Thái Lan (NITMX).

Các ngân hàng Việt Nam tham gia giai đoạn 1 của dự án bao gồm: BIDV, VietinBank, Vietcombank, TPBank và Sacombank.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 28/3, theo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng phiên cuối tuần xuống 25.100 VND/USD, trong khi DXY tăng 0,26% lên 100,2 điểm. Ngược lại, tỷ giá USD tự do tăng mạnh 100 đồng, sát ngưỡng 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng trong bối cảnh USD tiếp tục mạnh lên toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (25/3): Thế giới tăng, "chợ đen" giảm mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (25/3): Thế giới tăng, "chợ đen" giảm mạnh

Sáng ngày 25/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.104 VND, giảm 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,24%, hiện ở mức 99,18 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/3): Ngân hàng Nhà nước tăng, thế giới giảm

Tỷ giá USD hôm nay (24/3): Ngân hàng Nhà nước tăng, thế giới giảm

Sáng ngày 24/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.109 VND, tăng 19 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,54%, hiện ở mức 99,11 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80