Thủ tướng: Tăng trưởng GDP quý IV phải đạt trên 8,4%

Hà Phương
(TBTCO) - Kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ rõ, để tăng trưởng cả năm 2025 đạt trên 8%, thì tốc độ tăng GDP quý IV phải đạt trên 8,4%.
aa

Kinh tế - xã hội tiếp tục xu hướng tích cực

Sáng nay (8/11), Chính phủ họp thường kỳ tháng 10/2025, trực tuyến với các địa phương. Các báo cáo, ý kiến tại phiên họp thống nhất đánh giá, trong tháng 10 và 10 tháng năm 2025, kinh tế - xã hội tiếp tục xu hướng tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng được thúc đẩy; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.

Thủ tướng: Tăng trưởng GDP quý IV phải đạt trên 8,4%
Thủ tướng chủ trì phiên họp Chính phủ tháng 10/2025. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng đạt trên 762,4 tỷ USD, tăng 17,4% (trong đó xuất khẩu đạt 391 tỷ USD, tăng 16,2% và nhập khẩu đạt 371,4 tỷ USD, tăng 18,6%); xuất siêu gần 19,6 tỷ USD. Cả 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đều phát triển tốt, ổn định; khu vực nông nghiệp duy trì ổn định dù nhiều địa phương bị bão lũ. Phát triển doanh nghiệp khởi sắc. Du lịch tiếp tục phục hồi mạnh.

Các dự án kết cấu hạ tầng được tập trung đẩy nhanh; dự kiến hoàn thành 3.245 km đường bộ cao tốc và 1.711 km đường ven biển trong năm 2025. Đầu tư phát triển đạt kết quả tích cực. Trong 10 tháng, giải ngân vốn đầu tư công đạt 491.000 tỷ đồng, đạt 54,4% kế hoạch. Tổng vốn FDI đăng ký đạt trên 31,5 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ; vốn FDI thực hiện khoảng 21,3 tỷ USD, tăng 8,8%, giải ngân cao nhất trong 5 năm qua.

Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực, lạc quan về tình hình kinh tế Việt Nam và dự báo năm 2025 Việt Nam thuộc nhóm nước tăng trưởng cao hàng đầu khu vực và thế giới.

Chính quyền địa phương 2 cấp nhìn chung vận hành thông suốt; cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh. Các dự án vướng mắc kéo dài (gần 3.000 dự án) được tập trung xử lý tích cực, có hiệu quả bước đầu.

Bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản, Thủ tướng thẳng thắn nhìn nhận nước ta còn những tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức cần lưu ý. Theo đó, sức ép chỉ đạo điều hành kinh tế vĩ mô còn lớn, nhất là về tỷ giá, lãi suất, lạm phát, đặc biệt là trước tác động của tình hình đầy biến động trên thế giới. Hoạt động sản xuất, kinh doanh một số lĩnh vực còn khó khăn.

Giá vàng biến động mạnh; tình hình thị trường bất động sản từng bước được cải thiện nhưng giá nhà đất còn cao. Thể chế, pháp luật một số lĩnh vực còn vướng mắc; phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính còn chưa triệt để. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp là việc khó, thực hiện trên quy mô lớn, thời gian ngắn, yêu cầu cao nên có nơi, có lúc còn lúng túng, chưa đồng bộ.

Quyết liệt để đạt mục tiêu đã đề ra

Kết luận phiên họp, Thủ tướng nhấn mạnh, mục tiêu lớn nhất là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là nguồn lực cho sự phát triển, nếu thực hiện được thì mới tăng trưởng cao, phát triển nhanh và bền vững.

Về nhiệm vụ những tháng cuối năm, Thủ tướng chỉ đạo tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với chính sách tài khoá mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách khác. Duy trì tỉ giá, lãi suất hợp lý, linh hoạt, hiệu quả; bảo đảm thị trường vàng, ngoại tệ hoạt động ổn định, lành mạnh, kiểm soát chặt chẽ rủi ro; tập trung vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, các động lực tăng trưởng; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa đầu tư công, thúc đẩy giải ngân vốn FDI, đầu tư tư nhân; miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí đối với các lĩnh vực, đối tượng dễ bị tổn thương do các yếu tố chủ quan; theo dõi sát diễn biến, bảo đảm ổn định tình hình thị trường, giá cả…

Thủ tướng chỉ rõ, tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 7,85%; để tăng trưởng cả năm 2025 đạt trên 8% thì tốc độ tăng GDP quý IV phải đạt trên 8,4%. Trong đó khu vực công nghiệp tăng khoảng 9,4%; khu vực dịch vụ tăng khoảng 8,3%; khu vực nông nghiệp tăng khoảng 4%; phấn đấu tỷ trọng kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP.

Đặc biệt, Thủ tướng yêu cầu triển khai quyết liệt, kịp thời, hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị (các nghị quyết số 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72); khẩn trương hoàn thiện, trình Bộ Chính trị ban hành các nghị quyết mới về kinh tế nhà nước, FDI, văn hóa.

Ngoài ra, cần đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động; triển khai, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài; tập trung phòng, chống khắc phục hậu quả bão lũ; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân…

Làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống,
thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới

Với các động lực tăng trưởng truyền thống, Thủ tướng nêu rõ, về đầu tư, cả hệ thống chính trị phải phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công; cắt giảm mọi thủ tục hành chính rườm rà, thu hút mạnh FDI, nhất là vốn thực hiện; thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư tư nhân.

Về tiêu dùng, phát triển mạnh thị trường trong nước, nhất là thương mại điện tử; tăng cường xúc tiến thương mại, khuyến mại, giảm giá, hội chợ, miễn giảm thuế, phí, lệ phí...

Về xuất khẩu, triển khai các chương trình xúc tiến thương mại quy mô lớn, chất lượng cao tại các thị trường trọng điểm; thúc đẩy đàm phán, phấn đấu ký kết hiệp định FTA với khối Mercosur và Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) trong năm 2025...

Bên cạnh việc làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, cần thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…; các ngành, lĩnh vực mới như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo…

Hà Phương

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80