Tiền gửi không kỳ hạn “bốc hơi”, ngân hàng đổi chiến lược tăng tốc hút CASA

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiền gửi không kỳ hạn tại 27 ngân hàng niêm yết giảm 5,69% trong quý I/2025, tương ứng 140 nghìn tỷ đồng. Có tới 22 ngân hàng ghi nhận sụt giảm, kể cả nhóm dẫn đầu, điều này cho thấy áp lực lớn lên dòng vốn giá rẻ và buộc các nhà băng, đặc biệt nhóm tư nhân tăng tốc cạnh tranh CASA.
aa

Sinh lời tự động bùng nổ, muôn hình vạn trạng hút dòng tiền nhàn rỗi Ngân hàng có nhiều sáng kiến, CASA phục hồi quanh ngưỡng 20%
Top các ngân hàng được "chọn mặt gửi tiền" nhiều nhất quý I

Thống kê của phóng viên về biến động tiền gửi không kỳ hạn tại 27 ngân hàng niêm yết trong quý I/2025 cho thấy, mức giảm đáng kể 5,69% ngay trong quý đầu năm, tương ứng giảm 140 nghìn tỷ đồng, còn 2,3 triệu tỷ đồng; trong đó có tới 22/27 ngân hàng sụt giảm. Còn so sánh với cùng kỳ quý I/2024, tổng tiền gửi không kỳ hạn vẫn tăng 310 nghìn tỷ đồng, tương ứng tăng 15,5% cùng kỳ.

Tiền gửi không kỳ hạn "bốc hơi" tại nhiều ngân hàng

Theo đó, so với cuối năm 2024, hầu hết các ngân hàng đều chứng kiến sự sụt giảm mạnh về tiền gửi không kỳ hạn. Đáng chú ý nhất là SeABank, với mức giảm gần 50%, kéo tỷ trọng CASA từ 18,75% xuống chỉ còn 9,88%, mức giảm sâu nhất toàn ngành. Bên cạnh đó, có 9 nhà băng ghi nhận mức giảm 2 con số, đơn cử như: VietABank (giảm sâu 38,2%), VietBank (giảm 29,36%), Eximbank (giảm 18,32%), ABBank (giảm 15,96%)...

Hiếm hoi vài ngân hàng giữ đà tăng

Trong bối cảnh toàn thị trường giảm sút, hiếm hoi 5 ngân hàng giữ đà tăng CASA. Theo đó, KienlongBank tăng mạnh tiền gửi không kỳ hạn 16,88%, song quy mô còn khiêm tốn. Một số ngân hàng khác như VIB, OCB, Nam A Bank, ACB ghi nhận tăng trưởng dương về tiền gửi không kỳ hạn.

Dù có nền tảng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp lớn, các “ông lớn” như Vietcombank, MB, Techcombank cũng không tránh khỏi đà suy giảm. Cụ thể, Vietcombank giảm 4,92%; Vietinbank giảm 0,24%; MB giảm 7,35%; BIDV giảm 4,97%; Techcombank giảm 6,47%.

Điều này cho thấy áp lực lên CASA là xu hướng chung, ngay cả với những ngân hàng được đánh giá có lợi thế vượt trội về thanh khoản và số hóa dịch vụ.

Còn so với cùng kỳ quý I/2024, vẫn có tới 4 nhà băng sụt giảm như: SeABank giảm 4,88%; ABBank (giảm 12,46%); Saigonbank (giảm 4,52%).

Tiền gửi không kỳ hạn “bốc hơi”, ngân hàng đổi chiến lược tăng tốc hút CASA
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo ghi nhận, CASA thường có xu hướng giảm trong quý đầu năm do nhiều yếu tố mang tính chu kỳ và thị trường. Do quý I trùng với thời điểm Tết Nguyên đán, khi nhu cầu chi tiêu của cả người dân và doanh nghiệp tăng cao, khiến dòng tiền tạm thời rời khỏi hệ thống ngân hàng, đặc biệt là khỏi các tài khoản thanh toán.

Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cũng tiến hành thanh toán công nợ, trả cổ tức hoặc cơ cấu lại dòng tiền đầu năm, trong khi hoạt động sản xuất kinh doanh chưa sôi động, khiến lượng tiền gửi không kỳ hạn bị thu hẹp. Dù vậy, diễn biến này cũng đặt ra áp lực cho các ngân hàng trong việc duy trì nguồn vốn giá rẻ và đảm bảo hiệu quả sinh lời.

Dòng tiền giá rẻ suy yếu, ngân hàng đua nhau kéo CASA

Báo cáo mới đây của Công ty cổ phần Chứng Khoán KIS Việt Nam cũng cho thấy, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm từ 22,2% trong quý IV/2024 xuống còn 20,7% trong quý I/2025. Hầu hết các ngân hàng đều ghi nhận tỷ lệ CASA giảm. Nhóm ngân hàng dẫn đầu thể hiện lợi thế vượt trội về năng lực huy động vốn không kỳ hạn, nhờ nền tảng khách hàng lớn, hệ sinh thái đa dạng và chiến lược số hóa mạnh mẽ.

Tuy nhiên, ngay cả những ngân hàng top đầu cũng đang chứng kiến sự sụt giảm nhẹ về tỷ trọng CASA so với cuối năm trước. Đây là dấu hiệu cho thấy dòng vốn giá rẻ đang rút khỏi hệ thống ngân hàng, đặt ra không ít thách thức về chi phí vốn và khả năng duy trì biên lãi ròng (NIM) tại các ngân hàng thời gian tới.

Theo đó, MB (từ 39,1% xuống 35,7%), Techcombank (từ 37,4% xuống 35,1%), Vietcombank (từ 35,8% xuống 34,3%) và MSB (từ 25,9% xuống 24%).

casa biến động
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Thống kê cũng cho thấy, hiện có 11 ngân hàng có tỷ trọng CASA dưới 10%, như: Kienlongbank, Saigonbank, BVBank, Bac A Bank..., phản ánh sự phụ thuộc cao vào nguồn vốn có kỳ hạn, vốn thường đi kèm với chi phí cao hơn.

Trong toàn ngành, các ngân hàng cạnh tranh ngày càng gay gắt trong việc tìm kiếm và thu hút nguồn CASA ổn định từ khách hàng cá nhân với những sản phẩm, sáng kiến mới liên tục được đưa ra như tính năng sinh lời tự động. Ngay từ đầu năm, nhiều ngân hàng như: Techcombank, MSB, LPBank, VIB, VPBank... đua nhau triển khai tính năng sinh lời tự động, nhằm kéo lại dòng tiền nhàn rỗi của khách hàng.

Trong cuộc đua này, các ngân hàng ghi nhận lượng khách hàng cá nhân giao dịch thường xuyên lớn nhờ độ phủ mạng lưới, đẩy mạnh số hóa và tận dụng hệ sinh thái, sẽ tiếp tục duy trì nguồn vốn huy động dồi dào và lợi thế chi phí vốn thấp.

Ngân hàng tư nhân tăng tốc công nghệ để bắt kịp CASA

Trong báo cáo về ngành ngân hàng công bố mới đây, Chứng khoán VPBank (VPBankS) nhận thấy, phần lớn thời gian và ngân sách phát triển dự án tại các ngân hàng hiện nay được dành cho các dự án phát triển giao diện người dùng (front-end). Đây là các dự án mang lại hiệu quả hoàn vốn đầu tư rõ ràng và nhanh chóng.

Làn sóng đầu tiên của các khoản đầu tư vào ứng dụng ngân hàng tại Việt Nam rơi vào giai đoạn 2019 - 2020, với mục tiêu chuyển một số giao dịch cơ bản từ quầy sang ứng dụng, dù một số nghiệp vụ vẫn không thể thực hiện qua ứng dụng do quy định, ví dụ như giới hạn chuyển tiền qua hệ thống NAPAS là 5 tỷ đồng/ngày.

Làn sóng thứ hai bắt đầu sau năm 2020, hướng đến việc nâng cao trải nghiệm khách hàng toàn diện, một xu hướng mà ngành gọi là “Engagement Banking”- ngân hàng tương tác, chú trọng đến nhu cầu, mong muốn và trải nghiệm của khách hàng, không chỉ dừng lại ở việc số hóa quầy giao dịch.

"Các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn được hưởng lợi nhất định từ việc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (tức là nhận định rằng Chính phủ sẽ bảo đảm hoàn toàn tiền gửi tại các ngân hàng thương mại nhà nước), trong khi các ngân hàng tư nhân phải nỗ lực nhiều hơn để đạt được tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn tương đương" - nhóm phân tích VPBankS nhận định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 17,380
Kim TT/AVPL 17,090 17,390
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 17,380
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 17,340
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 17,290
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 17,270
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 173,800
Hà Nội - PNJ 170,800 173,800
Đà Nẵng - PNJ 170,800 173,800
Miền Tây - PNJ 170,800 173,800
Tây Nguyên - PNJ 170,800 173,800
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 173,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 17,380
Miếng SJC Nghệ An 17,080 17,380
Miếng SJC Thái Bình 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 17,380
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,570 17,270
Trang sức 99.99 16,580 17,280
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 17,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 17,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 1,736
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 1,737
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 170,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 129,238
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 11,719
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 105,141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 100,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 71,923
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cập nhật: 31/03/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80