TPBank đặt mục tiêu đưa lợi nhuận vượt đỉnh, đạt 9.000 tỷ đồng năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - TPBank dành nhiều nỗ lực đưa lợi nhuận trước thuế năm 2025 vượt đỉnh, đạt 9.000 tỷ đồng nhờ tốc độ tăng 18,4% cùng kỳ; đồng thời, kỳ vọng gặt hái lợi nhuận khả quan từ các công ty trong hệ sinh thái.
aa
Lợi nhuận TPBank năm 2024 tăng 36% Ngân hàng NCB khởi đầu năm với kết quả lạc quan, sắp tăng vốn lên 19.000 tỷ đồng MSB bận rộn với nhiều kế hoạch tăng vốn, thoái vốn và lấn sân sang chứng khoán

Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank - mã Ck: TPB) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 24/4 tại tòa nhà DOJI, số 5 Lê Duẩn, phường Điện Biên, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.

Khởi đầu năm đầy khả quan

Tại đại hội, TPBank dự kiến thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025, phương án phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ theo quy định năm 2024...

Theo tờ trình tại đại hội, TPBank cho biết, sau khi nộp thuế và trích lập các quỹ, lợi nhuận để lại chưa phân phối năm 2024 của ngân hàng là 4.851 tỷ đồng. Ngân hàng không trình cổ đông kế hoạch chia cổ tức trong năm nay.

TPBank đặt mục tiêu đưa lợi nhuận vượt đỉnh, đạt 9.000 tỷ đồng năm 2025
Nguồn: TPBank.

Giữ đà tăng 18,4%, đưa lợi nhuận vượt đỉnh

Năm 2025, TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 9.000 tỷ đồng, tăng 18,4% so với năm 2024 và vượt mức đỉnh cao từng thiết lập năm 2022 (7.828 tỷ đồng). Tổng tài sản năm 2025 dự kiến đạt 450 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6%. Huy động vốn dự kiến tăng 12,3% lên 420 nghìn tỷ đồng. Dư nợ cho vay và trái phiếu tổ chức kinh tế tăng khoảng 20% lên 313.750 tỷ đồng. Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng chính thức sẽ thực hiện theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước theo từng thời kỳ.

Mới đây, TPBank công bố sơ bộ kết quả kinh doanh trong 2 tháng đầu năm 2025, với lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.430 tỷ đồng. Ngân hàng dự báo lợi nhuận sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 2.100 tỷ đồng vào cuối quý I/2025, tương ứng với mức tăng 14,8% cùng kỳ.

Động lực tăng trưởng này đến từ việc mở rộng hoạt động kinh doanh, tối ưu hóa hiệu quả tài chính và kiểm soát chi phí tốt.

Tổng thu nhập hoạt động của TPBank trong 2 tháng đầu năm đạt hơn 2.800 tỷ đồng và dự kiến sẽ đạt 4.300 tỷ đồng vào cuối quý I/2025.

Dư nợ cho vay khách hàng cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 263.920 tỷ đồng và dự kiến sẽ đạt 269.000 tỷ đồng vào cuối quý đầu năm. Sự phục hồi mạnh mẽ trong nhu cầu tín dụng, cùng với chiến lược tập trung vào các ngành trọng điểm, giúp TPBank củng cố vị thế trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ.

Vượt kế hoạch lợi nhuận 2024, mở rộng hệ sinh thái ngân hàng

Trước đó, năm 2024, TPBank đạt lợi nhuận trước thuế 7.600 tỷ đồng, tăng 36% cùng kỳ và vượt 1,33% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao.

Các chỉ tiêu khác cũng tăng trưởng khả quan như: tổng tài sản đạt 418 nghìn tỷ đồng, tăng 17,2%, vượt 7,2% kế hoạch; hoạt động tín dụng tiếp tục tăng trưởng tốt, phù hợp với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp, với tổng dư nợ cho vay và đầu tư trái phiếu tổ chức kinh tế đạt 261.458 tỷ đồng, tăng 20,18% và đạt 103,83% kế hoạch. Tổng huy động đạt 374 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% vượt 14,39% kế hoạch được giao.

TPBank đặt mục tiêu đưa lợi nhuận vượt đỉnh, đạt 9.000 tỷ đồng năm 2025
TPBank đặt mục tiêu đưa lợi nhuận vượt đỉnh, đạt 9.000 tỷ đồng năm 2025. Ảnh tư liệu.

Trong khi thu nhập lãi thuần tăng nhẹ cùng kỳ (gần 4%) lên 12.907 tỷ đồng thì thu nhập ngoài lãi tăng vượt kỳ vọng, tăng 34,7% cùng kỳ, chủ yếu nhờ lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tăng 28% cùng kỳ và thu nhập từ thu hồi nợ xấu đã xử lý bằng dự phòng tăng gấp đôi.

Cùng với đó, ngân hàng kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, quy mô nợ xấu tăng nhanh 2 năm gần đây, nhưng tỷ lệ nợ xấu giảm còn 1,12% so với mức 1,52% năm trước đó và thấp hơn chỉ tiêu được giao (2,5%). Đồng thời, trích lập 4.159 tỷ đồng dự phòng rủi ro để tăng tỷ lệ bao phủ nợ xấu, củng cố “bộ đệm” dự phòng cho tương lai, thực hiện sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng với số tiền 3.798 tỷ đồng.

Cũng trong năm 2024, ngân hàng triển khai các giải pháp giữ vững vị thế là cờ đầu trong cuộc cách mạng chuyển đổi số của ngành ngân hàng.

Lợi nhuận khả quan sau một số thương vụ

Năm 2024, TPBank cũng mở rộng hệ sinh thái của ngân hàng thông qua việc mua lại, tái cơ cấu công ty tài chính, công ty quản lý quỹ, duy trì tỷ lệ vốn góp, mua cổ phần tại công ty chứng khoán. Hai công ty TPBank đầu tư, góp vốn đều hoạt động có lãi. Trong đó, Công ty cổ phần Quản lý quỹ Việt Cát ghi nhận mức lợi nhuận trước thuế 196 triệu đồng, Công ty cổ phần Chứng khoán Tiên Phong đạt mức lợi nhuận trước thuế là 481 tỷ đồng.

Theo đó, năm 2024, TPBank tiếp tục phối hợp với Công ty Tài chính cổ phần Handico (HAFIC), Ban Kiểm soát đặc biệt HAFIC để trình cấp có thẩm quyền chấp thuận tái cơ cấu HAFIC theo phương án phục hồi với sự hỗ trợ của TPBank, đảm bảo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

Trong quý I/2024, TPBank hoàn thành việc mua lại Công ty cổ phần quản lý quỹ Việt Cát (VFC) thành công ty con, với tổng mức nắm giữ cổ phần tại VFC đến nay là 99,9%. TPBank sở hữu 9,01% vốn điều lệ tại Công ty cổ phần Chứng khoán Tiên Phong (TPS), giá trị thực góp là 270,3 tỷ đồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80