Từ điểm hữu hạn, ngân hàng Việt tính đường dài

L.T

L.T

Cuối cùng, sau bao lần lỡ hẹn, chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam đã phá đỉnh thành công. Dòng cổ phiếu ngân hàng tạo động lực quan trọng, và không hẳn nhà đầu tư đang quá hào phóng…
aa

Cùng thời điểm, các doanh nghiệp nói chung và khối ngân hàng thương mại (NHTM) bước vào mùa đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2021. Những tính toán đường dài của các nhà băng tiếp tục định hình.

Hữu hạn trước cơ hội mở

Đã 13 năm qua hệ thống NHTM Việt Nam không có thêm thành viên nội địa nào được thành lập mới. Sau khi cấp phép thêm một số trường hợp, năm 2008 đánh dấu số lượng các NHTM trong nước đạt đỉnh, gồm 5 thành viên có vốn Nhà nước chi phối và 40 NHTM cổ phần.

Đến nay, quy mô trên chỉ còn 4 NHTM do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ, 3 ngân hàng mua bắt buộc và đặc biệt chỉ còn 28 NHTMCP. Như vậy, số lượng NHTM Việt Nam không những hữu hạn mà còn thu hẹp đi, qua quá trình tái cơ cấu từ năm 2011 đến nay và chưa dừng lại. Điều này có ảnh hưởng lớn đối với hệ thống các NHTM và cả nền kinh tế.

Trực quan đơn giản, với số lượng giảm đi đáng kể, cũng như hữu hạn khi không có thành viên thành lập mới, cơ hội mở rộng thị phần trở nên lớn hơn với những NHTM hiện hữu. Cơ hội đó đã, đang và không ngừng mở rộng.

mb
MB dự kiến tăng mạnh vốn điều lệ lên gần 40% trong năm 2021.

Đơn cử, 13 năm trước có 45 NHTM Việt Nam đối ứng với quy mô nền kinh tế chỉ hơn 1,6 triệu tỷ đồng GDP. Nay, chỉ còn 35 thành viên đối ứng với khoảng 6,2 triệu tỷ đồng quy mô GDP ước tính sơ bộ cuối năm 2020.

Sát sườn hơn, năm 2008, cùng tương quan số lượng trên chỉ có khoảng 1,4 triệu tỷ đồng tín dụng toàn hệ thống; đến cuối năm 2020 đã lên tới khoảng 9,2 triệu tỷ đồng.

Tương tự, dân số Việt Nam năm 2008 có khoảng 86,2 triệu người thì nay hệ thống ngân hàng có số lượng thành viên ít hơn nhiều nhưng có trường tiếp cận của quy mô khoảng 97,5 triệu người.

Hay ở một xu hướng đang bùng nổ là quá trình chuyển đổi số và không gian ngân hàng số hiện nay. Nếu 2008 nhiều thành viên vẫn còn chật vật đầu tư, chuyển đổi hệ thống ngân hàng lõi, Internet Banking và Mobile Banking còn khá sơ khởi, thì nay có thể nói là một sự choáng ngợp.

Không cần lùi về 13 năm trước, mà chỉ giai đoạn 5 năm gần đây, hệ thống đã ghi nhận cấp độ tăng trưởng tầm nghìn phần trăm của kết quả số hóa. Cụ thể, số liệu từ NHNN cho thấy, tính đến tháng 10/2020 so với 5 năm trước, số lượng và giá trị thanh toán qua kênh Internet đã tăng 276,4% và 343%; đặc biệt số lượng và giá trị thanh toán qua kênh điện thoại di động tăng tới 1.037% và 972,5%.

Trở lại với bối cảnh chỉ số VN-Index phá đỉnh, nhà đầu tư hẳn không quá hào phóng với dòng cổ phiếu ngân hàng. Họ có cơ sở tính toán khi nhìn lại điểm hữu hạn trước cơ hội rộng mở trên. Tuy nhiên, nắm được cơ hội đó còn tùy thuộc vào năng lực và tầm nhìn của mỗi NHTM.

Năng lực chiếm lĩnh, tính đường dài

Kết thúc năm 2020, hệ thống NHTM Việt Nam tiếp tục được “sàng lọc” bởi các điểm cơ bản: mức độ hoàn tất Basel II, tất toán gọn nợ tại VAMC hay chưa, tỷ lệ trích lập dự phòng bao nợ xấu đến đâu (nhất là trong bối cảnh môi trường tiềm ẩn rủi ro bởi Covid-19)…

Nếu theo những tiêu chí trên, Vietcombank, MB, Techcombank… đã sớm đạt đích từ nhiều năm trước. Trong đó có một kết quả đáng chú ý: Vietcombank đã có tỷ lệ trích lập dự phòng bao nợ xấu lên tới khoảng 380%; hay MB cũng đạt tới hơn 144% đến cuối quý 1/2021. Bên cạnh sức chủ động phòng ngừa rủi ro, chỉ tiêu này có hàm ý tiềm năng hoàn nhập lợi nhuận trong tương lai.

Ngay quý 1, nhiều NHTM đã lần lượt công bố lợi nhuận trước thuế tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ 2020, thậm chí tính bằng lần như tại MSB, SeABank và MB; hoặc một số đạt tăng trưởng cao từ 50-70%…

Bên cạnh lợi nhuận, mở rộng quy mô tổng tài sản cũng là cuộc cạnh tranh giữa các thành viên, bởi đây là tổng hòa các thị phần. Vị thế ở đây đang quyết liệt giữa nhóm NHTM cổ phần tư nhân hàng đầu. Đến cuối 2020, MB đang dẫn đầu, sát kề là Sacombank, ACB, Techcombank và VPBank.

Tuy nhiên, thị phần và tổng tài sản sẽ trở nên hữu hạn khi cân đối với lực đỡ của vốn điều lệ. Theo đó, các NHTM tiếp tục tính đường dài trong mùa ĐHĐCĐ năm nay.

Trong khi Techcombank dự kiến tiếp tục không chia cổ tức, thì Sacombank và Eximbank đang trình NHNN để có thể tăng vốn qua trả cổ tức sau nhiều năm tạm ngừng.

Thành viên đang nắm ưu thế thị phần và tổng tài sản là MB (gần 495 nghìn tỷ đồng cuối 2020) đã tính toán phương án tăng mạnh vốn điều lệ, dự kiến tăng gần 40% năm nay. Kế hoạch định rõ, một cấu phần vốn tăng thêm sẽ tập trung đầu tư cho thị trường phía Nam; một cấu phần tiếp tục tăng cường năng lực công nghệ thông tin - điểm mà MB tạo thu hút trên thị trường những năm gần đây qua loạt dự án chuyển đổi số và mở rộng nhanh chóng hệ sinh thái ngân hàng số.

Hay tại ACB, kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 25% đã được ĐHĐCĐ thông qua ngày 6/4, cùng tham vọng sẽ nâng tổng tài sản lên mức gần 500 nghìn tỷ đồng cuối năm nay. Đại diện lãnh đạo ACB lạc quan với kế hoạch trên, khi nhận định năm 2021 sẽ có nhiều thuận lợi, gắn với triển vọng phục hồi của kinh tế Việt Nam, với hướng mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 6-6,5% năm nay.

Nắm cơ hội phục hồi đó, một số NHTM đã nhanh chóng tăng tốc ngay trong quý đầu tiên. Bên cạnh kết quả lợi nhuận, có thể thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng tại Vietcombank đã đạt 3,7%, tại HDBank là 5,2%, hay tại MB vượt trội với khoảng 8%, MSB trên 9%... Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cuối quý 1 ước đạt hơn 2%, đồng nghĩa có nhiều thành viên chưa kịp bắt nhịp.

Riêng ở chỉ tiêu quan trọng là tăng trưởng tín dụng như trên cũng cho thấy, điều kiện để nắm cơ hội đang có nhiều khác biệt giữa các thành viên./.

L.T

L.T

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước mở thêm dư địa tín dụng cho 25 ngân hàng, khi không tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026. Cơ chế này tiếp nối chính sách tương tự đã áp dụng với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 16/09/2026, tại Hà Nội, Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai (Xuân Mai Corp) và Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) - Chi nhánh Thăng Long và Chi nhánh Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng, nâng tầm mối quan hệ hợp tác gắn bó suốt nhiều năm qua trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, mở ra hành trình bứt phá mạnh mẽ cho cả hai bên trong tương lai.
ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

(TBTCO) - Ngày 17/9/2026 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được trao giải “Giao dịch tài trợ thương mại tốt nhất dành cho doanh nghiệp SME” (Best SME Deal of the Year) tại Lễ trao giải lần thứ 12 của Chương trình Tài trợ Thương mại và Chuỗi cung ứng (Trade and Supply Chain Finance Program - TSCFP), thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), được tổ chức vào ngày 10/9/2026.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,040 ▲100K 14,640 ▲100K
Trang sức 99.99 14,050 ▲100K 14,650 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1284K 14,702 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1284K 14,703 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▲12K 1,466 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1257K 1,455 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,059 ▲1188K 144,059 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▲900K 109,286 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 893 ▼87591K 991 ▼97293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,114 ▲732K 88,914 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,185 ▲700K 84,985 ▲700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,103 ▼45426K 6,083 ▼54246K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cập nhật: 18/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18012 18287 18863
CAD 18065 18340 18957
CHF 30924 31301 31947
CNY 0 3839 3935
EUR 29237 29457 30536
GBP 33963 34352 35287
HKD 0 3183 3385
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14597 15182
SGD 19846 20128 20695
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26181
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,269 29,292 30,682
JPY 161.95 162.24 172.05
GBP 34,119 34,211 35,392
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,242 18,301 18,978
CHF 31,153 31,250 32,174
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,803 3,948
HKD 3,248 3,258 3,394
KRW 17.33 18.07 19.66
THB 745.58 754.79 808.17
NZD 14,550 14,685 15,124
SEK - 2,603 2,695
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,714 2,810
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,944.07 - 6,709.13
TWD 736.89 - 892.77
SAR - 6,803.01 7,170.41
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26180
AUD 18150 18250 19175
CAD 18230 18330 19346
CHF 31116 31146 32719
CNY 3819.9 3844.9 3980.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31144
GBP 34223 34273 36025
HKD 0 3305 0
JPY 162.79 163.29 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19998 20128 20851
THB 0 726.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30