Thị trường tiền tệ tuần 17/4 – 21/4:

Tỷ giá trung tâm biến động mạnh hơn, kỳ vọng tích cực về thị trường tài chính

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến đáng chú ý trong tuần qua là động thái điều chỉnh mạnh hơn qua từng phiên đối với tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Tuy nhiên, tỷ giá do Vietcombank công bố không có biến động lớn. Báo cáo mới công bố về thị trường tài chính năm 2023 được BIDV và ADB công bố trong tuần cũng có đưa ra nhiều đánh giá tích cực hơn.
aa

Tỷ giá trung tâm tăng biên độ dao động

Sau một thời gian duy trì mức dao động khá hẹp, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố trong tuần qua đã có những phiên tăng/giảm với biên độ khá rộng.

Theo đó, tỷ giá trung tâm đầu tuần có một phiên giảm sâu, nhưng sau đó lại quay đầu tăng vọt trong phiên tiếp theo và tiếp tục duy trì đà tăng thêm 2 phiên nữa trước khi quay đầu giảm vào cuối tuần. Đặc biệt trong tuần qua, tỷ giá trung tâm có một phiên tăng rất mạnh tới 38 đồng mỗi USD vào hôm thứ ba ngày 18/4, đây là diễn biến khá khác biệt so với những biến động rất hẹp mỗi phiên chỉ vài USD trong suốt 1 thời gian dài trước đó.

Tỷ giá trung tâm biến động mạnh hơn, kỳ vọng tích cực về thị trường tài chính
Thị trường tài chính năm 2023 được kỳ vọng sẽ dần tích cực. Ảnh: T.L
Xuất hiện tín hiệu tích cực cho tỷ giá, lãi suất tiền gửi vẫn khá nóng Tín hiệu tích cực hơn khi tốc độ huy động vốn "nhúc nhích" phục hồi

Cuối tuần, tỷ giá trung tâm USD được niêm yết ở mức 23.634 đồng/USD, cao hơn 46 đồng so với cách đó một tuần.

Mặc dù tỷ giá trung tâm được điều chỉnh mức độ lớn hơn qua mỗi phiên, nhưng tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại vẫn tỏ ra ít biến động. Tại Vietcombank, tỷ giá đã có những phiên tăng/giảm xen kẽ, mở đầu tuần hôm 17/4 ở mức 23.290/23.320/23.660 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra) và chốt phiên thứ sáu cuối tuần cũng ở mặt bằng giá này.

Hiện tại, các yếu tố kinh tế vĩ mô vẫn đang khá thuận lợi cho tỷ giá và chưa có áp lực nào mới xuất hiện có thể làm tăng tỷ giá trong giai đoạn này, nhất là khi đồng USD vẫn đang trong trạng thái khá yếu trên thị trường quốc tế cũng là yếu tố giúp tỷ giá VND/USD. Rạng sáng ngày thứ sáu 21/4, chỉ số US Dollar Index đo lường biến động của đồng USD đã giảm về ngưỡng 102 điểm.

Kỳ vọng tích cực hơn về thị trường tài chính

Trong tuần qua, Nhóm nghiên cứu thuộc Ngân hàng BIDV và ADB đã công bố báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2022 và triển vọng 2023”. Báo có đánh giá, sau nhiều biến động thời gian qua, thị trường tài chính được kỳ vọng đang dần ổn định, nhưng cần theo dõi sát để có phản ứng chính sách hợp lý.

Tỷ giá trung tâm biến động mạnh hơn, kỳ vọng tích cực về thị trường tài chính
Tỷ giá do Vietcombank công bố vẫn không có nhiều biến động lớn. Ảnh: T.L

Nội dung phân tích trong báo cáo này cho thấy, sang năm 2023, bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái nhẹ, tăng trưởng chậm lại với giá cả, lạm phát đã dịu đi, tỷ giá ổn định hơn và lãi suất chững lại, nhưng còn ở mức cao. Thị trường tài chính, ngân hàng có nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhất là sau sự cố sụp đổ của một số ngân hàng Mỹ và Thụy Sỹ, dù đã được khoanh vùng xử lý. Kinh tế Việt Nam dự báo tăng trưởng chậm lại (5,5 – 6%) với lạm phát có thể sẽ cao hơn năm 2022 (4-4,5%). Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ của Việt Nam đã thích ứng hợp lý, ưu tiên hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, hạ dần lãi suất nhưng không chủ quan với lạm phát.

Vẫn phải theo dõi sát để có phản ứng chính sách kịp thời

Báo cáo “Thị trường tài chính Việt Nam 2022 và triển vọng 2023” dù đã đưa ra những kỳ vọng tích cực hơn về thị trường tài chính năm 2023 nhưng các chuyên cũng vẫn khuyến cáo việc cần theo dõi sát sao và phản ứng chính sách kịp thời, vì rủi ro tài chính – ngân hàng toàn cầu gia tăng cũng như những tồn tại trên thị trường tài chính, bất động sản cần thời gian để khắc phục.

TS. Cấn Văn Lực - Kinh tế trưởng BIDV cho biết, một điểm tích cực quan trọng là chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam được phản ánh rõ nét hơn rất nhiều. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện đã lên tới 125%, có nghĩa là 1 đồng nợ xấu thì có khoảng 1,25 đồng dự phòng, đảm bảo tốt năng lực quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.

Về câu chuyện tín dụng bất động sản, việc cho vay bất động sản hiện cũng trong kiểm soát vì dư nợ cho vay bất động sản của Việt Nam hiện đang ở 21,2%, riêng cho vay nhà ở là 14% trong khi của các thị trường mới nổi thì tỷ lệ cho vay nhà ở thường ở mức 20 – 25%.

Giá vàng kỳ vọng tăng

Giá vàng trong nước tăng điểm ở một số phiên giữa tuần, nhưng ổn định vào cuối tuần. Trong khi đó, giá vàng thế giới nhích tăng vào cuối tuần khi nhiều chuyên gia quốc tế đưa ra những dự báo có chiều hướng tích cực với diễn biến tới đây của giá vàng.

Mở cửa thị trường ngày 17/4, giá vàng 9999 của SJC tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với kết phiên giao dịch cuối tuần trước. Giá vàng miếng SJC 9999 hôm 17/4 ghi nhận ở mức 66,35 triệu đồng/lượng mua vào và 66,97 triệu đồng/lượng bán ra. Sau đó, giá vàng có biến động tăng điểm trong phiên tiếp theo, lên mức 66,55 triệu đồng/lượng mua vào và 67,12 triệu đồng/lượng bán ra.

Chiều ngày 21/4, giá vàng miếng SJC 9999 loại 1 lượng trở lên niêm yết ở mức 66,4 triệu đồng/lượng mua vào và 67 triệu đồng/lượng bán ra, giảm nhẹ khoảng 50.000 đồng/lượng so với phiên buổi sáng.

Vàng miếng SJC 9999 loại 5 chỉ chiều 21/4 có giá bán ra là 67,02 triệu đồng/lượng, vàng miếng SJC 9999 loại 2 chỉ trở xuống bán ra 67,03 triệu đồng/lượng.

Với các loại vàng khác, giá vàng nhẫn SJC 9999 loại một chỉ trở lên có giá 55,8 triệu đồng/lượng mua vào và 56,8 triệu đồng/lượng bán ra, vàng nhẫn SJC 9999 loại 0,5 chỉ có giá bán là 56,9 triệu đồng/lượng. Vàng nữ trang SJC 9999 có giá 55,6 triệu đồng/lượng mua vào và 56,4 triệu đồng/lượng bán ra, vàng nữ trang SJC 99 có giá 54,542 triệu đồng/lượng mua vào và 55,842 triệu đồng/lượng bán ra.

Trên thị trường vàng thế giới, giá vàng giao ngay 20/4 giao dịch ở mức 2.002 USD/ounce. Giá vàng kỳ hạn giao dịch ở mức 2.003 USD/ounce.

Ông Imaru Casanova - Phó Giám đốc danh mục đầu tư Quỹ vàng VanEck cho biết, nhiều yếu tố đang hỗ trợ giá vàng và giữ trên mức hỗ trợ 2.000 USD/ounce. Mặc dù căng thẳng cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn cầu đã giảm bớt, nhưng lạm phát liên tục tăng cao và hoạt động kinh tế chậm lại là yếu tố tác động tới giá vàng.

Thị trường chờ ngóng thông tin kinh tế - xã hội tháng 4

Thời điểm này là giai đoạn giới tài chính và kinh doanh khá hồi hộp chờ ngóng thông tin về tình hình kinh tế xã hội tháng 4, dự kiến sẽ được Tổng cục Thống kê công bố trong tuần tới. Đây có thể là giai đoạn khá quan trọng, vì tháng 4 có thể có những số liệu mới sau những phản ứng chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước đưa ra vào tháng 3, đáng chú ý nhất là 2 lần liên tiếp điều chỉnh giảm lãi suất điều hành chỉ trong vòng 1 tháng.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 27/3 đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch về quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng, với mức giảm phổ biến từ 2 đến hơn 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi lên tính đến sáng ngày 26/3. Cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 170 - 175 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 25/3 đảo chiều tăng mạnh tại hầu hết doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến trở lại ngưỡng 167 - 170 triệu đồng/lượng sau phiên giảm sâu trước đó.
Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 24/3, giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 5 triệu đồng/lượng, có nơi giảm hơn 7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,090 ▲110K 17,390 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼50K 16,100 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 ▲140K 17,340 ▲140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 ▲140K 17,290 ▲140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 ▲140K 17,270 ▲140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
NL 99.90 15,770 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▼50K
Trang sức 99.9 16,570 ▲100K 17,270 ▲100K
Trang sức 99.99 16,580 ▲100K 17,280 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 ▲10K 17,382 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 ▲10K 17,383 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 ▲10K 1,736 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 ▲10K 1,737 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 ▲10K 1,721 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 ▲990K 170,396 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 ▲750K 129,238 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 ▲68K 11,719 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 ▲610K 105,141 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 ▲583K 100,494 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 ▲417K 71,923 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cập nhật: 30/03/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80