Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

SSI Research đánh giá, Thông tư số 50/2026/TT-NHNN tạo bước đệm nới lỏng trong ngắn hạn, khi nâng trần LDR từ 85% lên 95%. Về dài hạn, việc áp dụng các chỉ tiêu Basel III được đánh giá là bước đi đúng hướng, chuyển trọng tâm quản lý từ “số lượng” sang “chất lượng” bảng cân đối.
aa
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95% Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

Bước đệm “dễ thở” trước chuẩn Basel III

Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI) vừa cập nhật báo cáo ngành ngân hàng, đánh giá Thông tư số 50/2026/TT-NHNN hướng tới Basel III với bước đệm nới lỏng ngắn hạn.

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 50) có hiệu lực từ ngày 1/12/2026, áp dụng các tỷ lệ thanh khoản mới theo lộ trình từ ngày 1/10/2028.

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng
Nguồn: SSI Research.

Nêu bật các thay đổi chính, nhóm phân tích của SSI chỉ rõ, trần tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (tỷ lệ LDR) được nâng từ 85% lên 95%, kèm điều chỉnh công thức. Theo đó, tử số chỉ gồm dư nợ cho vay; còn vốn chủ sở hữu và vốn vay nước ngoài được cộng vào mẫu số; trái phiếu doanh nghiệp và hoạt động cấp tín dụng không phải là cho vay được trừ khỏi mẫu số.

“Quy định trần LDR mới ở mức 95% sẽ được áp dụng khi ngân hàng chuyển sang tuân thủ các chỉ tiêu LCR/NSFR, muộn nhất từ ngày 1/10/2028; hoặc sớm hơn đối với những ngân hàng đăng ký áp dụng sớm” - SSI Research nêu rõ.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, trần LDR 85% theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN vẫn tiếp tục có hiệu lực. Do đó, quy định về giới hạn LDR sẽ luôn được duy trì xuyên suốt trong lộ trình.

Bên cạnh đó, Thông tư 50 giữ lại phần lõi thanh khoản Basel III, đó là tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ đòn bẩy. Lộ trình LCR được nới thêm một bước nữa, áp dụng 50 - 100% trong giai đoạn 2028 - 2033, so với 70 - 100% giai đoạn 2028 - 2031 theo dự thảo ban đầu.

Ngoài ra, một số điều chỉnh để phù hợp với điều kiện Việt Nam: việc mở rộng danh mục tài sản có tính thanh khoản cao (HQLA), bổ sung trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương vào tài sản cấp 1; cho phép tính hạn mức với ngân hàng mẹ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài…

SSI Research cho rằng, tác động của thay đổi này nên được đánh giá theo thời gian, bởi tác động dài hạn và ngắn hạn là khác nhau.

Về dài hạn, nhóm phân tích của SSI khẳng định, việc chuyển sang Basel III là đúng hướng. Chỉ số LDR chỉ đơn thuần phản ánh mối quan hệ giữa dư nợ cho vay và nguồn vốn huy động, không phản ánh chất lượng của từng khoản mục trong đó.

Trong khi đó, Basel III chuyển từ đánh giá dựa trên “số lượng” thành “chất lượng”, đánh trọng số mỗi nguồn vốn theo mức độ ổn định và mỗi tài sản theo mức độ thanh khoản - một thước đo rủi ro thanh khoản trung thực hơn.

Trong ngắn hạn, các ngân hàng đăng ký áp dụng sớm sẽ được hưởng lợi rõ rệt từ cơ chế mới.

Các ngân hàng có thể đăng ký áp dụng sớm ngay từ khi thông tư có hiệu lực vào tháng 12/2026, với các ngưỡng khởi điểm thấp (LCR 50%, NSFR 90%).

“Việc chuyển đổi này có ý nghĩa quan trọng bởi đối với hầu hết các ngân hàng trong phạm vi theo dõi, công thức mới với trần LDR 95% sẽ mang lại dư địa tăng trưởng tín dụng lớn hơn so với cơ chế cũ với mức trần 85% theo ước tính của chúng tôi” - SSI Research đánh giá.

Phần lớn ngân hàng có tỷ lệ LDR dưới 95%

Theo ước tính dựa trên số liệu cuối năm 2025 của SSI Research, phần lớn các ngân hàng đều dưới 95%, nhìn chung thấp hơn bình quân khoảng 8 điểm phần trăm so với trần LDR quy định.

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng
Theo SSI Research, mặc dù tỷ lệ LDR tính lại theo công thức mới có thể tăng thêm vài điểm phần trăm, mức trần lại được nâng tới 10 điểm phần trăm. Do đó, việc áp dụng sớm cơ chế mới có thể giúp các ngân hàng mở rộng thêm dư địa cho vay. Tuy nhiên, việc mở rộng dư địa cho vay theo quy định không đồng nghĩa với việc thúc đẩy được huy động vốn.

Nói một cách đơn giản, việc chuyển sang cơ chế mới sẽ tạo ra dư địa tăng trưởng tín dụng lớn hơn so với quy định trước đây.

Một tỷ lệ mà phần lớn ngân hàng đã đáp ứng được từ trước sẽ không còn là ràng buộc thực sự đối với hoạt động cho vay, mà chủ yếu đóng vai trò như một mốc lộ trình quản lý.

Theo SSI Research, các ngân hàng vẫn có thể chủ động mở rộng dư địa thông qua tăng vốn hoặc huy động vốn nước ngoài. Trong dự thảo trước, cả hai khoản mục này được khấu trừ khỏi tử số (dư nợ cho vay). Trong khi đó, Thông tư 50 đưa chúng vào mẫu số (nguồn vốn huy động).

Sự thay đổi trên làm giảm lợi ích nhiều nhất đối với những ngân hàng có lợi thế nhiều thông qua công cụ này, tức các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay nước ngoài lớn.

Tuy nhiên, có một điểm đáng chú ý theo chiều ngược lại, đặc biệt trong bối cảnh lượng lớn trái phiếu ngân hàng sẽ đáo hạn trong giai đoạn 2026 - 2027. Theo quy định mới, trái phiếu do ngân hàng phát hành chỉ được tính vào cơ sở xác định LDR nếu đủ điều kiện được ghi nhận là vốn cấp 2. Trong khi đó, các trái phiếu cấp cao, thường có kỳ hạn khoảng 2 - 3 năm, sẽ không được tính.

Đây cũng có thể là một cách giải thích xu hướng gần đây khi các ngân hàng ưu tiên phát hành chứng chỉ tiền gửi thay vì phát hành trái phiếu mới, trong bối cảnh chứng chỉ tiền gửi vẫn được tính vào cơ sở xác định LDR, trong khi trái phiếu cấp cao thì không./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,900 ▼400K 142,900 ▼400K
Hà Nội - PNJ 139,900 ▼400K 142,900 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 139,900 ▼400K 142,900 ▼400K
Miền Tây - PNJ 139,900 ▼400K 142,900 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 139,900 ▼400K 142,900 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,900 ▼400K 142,900 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,990 ▼60K 14,290 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 13,990 ▼60K 14,290 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 13,990 ▼60K 14,290 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 ▼60K 14,290 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 ▼60K 14,290 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 ▼60K 14,290 ▼60K
NL 99.99 13,250 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼50K
Trang sức 99.9 13,570 ▼90K 14,170 ▼90K
Trang sức 99.99 13,580 ▼90K 14,180 ▼90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,399 ▼6K 14,292 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,399 ▼6K 14,293 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,394 ▲1254K 1,424 ▲1281K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,394 ▲1254K 1,425 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,369 ▼6K 1,414 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133 ▼133461K 140 ▼140454K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,411 ▼450K 106,211 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,512 ▲77820K 96,312 ▲86640K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,613 ▼366K 86,413 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,794 ▼350K 82,594 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,932 ▼25K 5,912 ▼25K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,399 ▼6K 1,429 ▼6K
Cập nhật: 06/10/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17589 17862 18437
CAD 17681 17955 18567
CHF 30597 30973 31608
CNY 0 3834 3929
EUR 28572 28789 29863
GBP 33588 33976 34919
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14249 14833
SGD 19788 20070 20635
THB 689 752 804
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26174
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,571 28,594 29,952
JPY 159.89 160.18 169.85
GBP 33,733 33,824 35,007
AUD 17,777 17,841 18,515
CAD 17,867 17,924 18,586
CHF 30,853 30,949 31,860
SGD 19,894 19,956 20,737
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,392
KRW 17.85 18.61 20.25
THB 736.66 745.76 798.49
NZD 14,224 14,356 14,782
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,833 3,969
NOK - 2,658 2,754
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,946.86 - 6,710.67
TWD 738.06 - 894.19
SAR - 6,807.62 7,170.92
KWD - 82,102 87,364
AED - 6,823 7,352
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25810 26170
AUD 17770 17870 18793
CAD 17868 17968 18982
CHF 30842 30872 32472
CNY 3816.4 3841.4 3976.5
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28703 28733 30458
GBP 33848 33898 35659
HKD 0 3315 0
JPY 160.92 161.42 171.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14349 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19934 20064 20786
THB 0 716.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,699 25,819 26,190
USD20 25,669 25,819 26,190
USD1 25,649 25,819 26,190
AUD 17,796 17,896 19,003
EUR 28,471 28,571 30,229
CAD 17,797 17,897 19,203
SGD 20,005 20,155 21,340
JPY 161.26 162.76 168.33
GBP 33,726 33,876 35,260
XAU 13,988,000 0 14,292,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 752 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/10/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30