Việt Nam được đánh giá có nhiều triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai

Thảo Miên
(TBTCO) - Cải thiện tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu, linh kiện, thiết bị sản xuất trong nước của Việt Nam có tác động tích cực đến việc mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh cũng như quyết định đầu tư vào Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài. Với tỷ lệ nội địa hóa cải thiện ổn định đều qua từng năm, Việt Nam được doanh nghiệp Nhật đánh giá có nhiều triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai.
aa
Việt Nam được đánh giá có nhiều triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai
Tỷ lệ cung ứng nội địa tại Việt Nam hiện đạt 36,6%, giảm 5,3 điểm so với khảo sát năm trước (41,9%). Ảnh tư liệu

Tỷ lệ nội địa hóa đạt 36,6%

Theo kết quả “Khảo sát thực trạng của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài năm 2024” (Ấn bản Việt Nam), được Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro) tại Hà Nội công bố vào cuối tháng 1/2025, tỷ lệ cung ứng nội địa tại Việt Nam đạt 36,6%, giảm 5,3 điểm so với khảo sát năm trước (41,9%). Tỷ lệ cung ứng từ Nhật Bản đạt 33,6%, từ Trung Quốc đạt 12,6% và từ ASEAN đạt 11,3%. Trong tổng số cung ứng, tỷ lệ cung ứng từ các doanh nghiệp địa phương tại Việt Nam là 15,7%, giảm 1,5 điểm so với năm trước.

Về nguồn cung ứng tại Việt Nam trong năm 2024 theo ngành nghề, tỷ lệ cung ứng nội địa của các ngành thiết bị điện/điện tử và linh kiện của chúng, hóa chất/dược phẩm và dệt may/quần áo đều dưới 30%. Trong khi đó, các ngành thực phẩm, giấy/sản phẩm gỗ/in ấn, cao su/gốm sứ/đất đá đều có hơn 50% tỷ lệ cung ứng từ các doanh nghiệp địa phương.

Theo Jetro, với con số 36,6%, tỷ lệ cung ứng nội địa tại Việt Nam hiện tương đương với Malaysia và Philippines. Lý giải một phần nguyên nhân của việc giảm tỷ lệ cung ứng nội địa của các doanh nghiệp Việt đối với các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam trong năm qua, ông Haruhiko Ozasa - Trưởng đại diện Jetro tại Việt Nam cho biết do yếu tố khách quan. Vào năm 2024, đồng Yên suy yếu, điều này dẫn đến tỷ lệ cung ứng từ Nhật Bản tăng cao (tăng 2,7 điểm so với năm trước).

Cũng theo ông Haruhiko Ozasa, chi phí nguyên vật liệu và linh kiện cũng như chi phí logistics gia tăng do lạm phát toàn cầu đã có tác động lớn đến chính sách cung ứng của Việt Nam trong 5 năm gần đây (2019 - 2024), nhưng cả hai yếu tố này đều thấp hơn mức trung bình của ASEAN.

Triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai

Mặc dù tỷ lệ nội địa hóa tại thị trường Việt Nam vẫn ở mức thấp so với Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia nhưng tốc độ tăng trưởng tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam trong 10 năm qua là rất tốt, năm sau cao hơn năm trước (trừ năm 2024 do đồng Yên suy yếu). Cùng với các lợi thế về môi trường đầu tư vượt trội so với các quốc gia trong khu vực, các doanh nghiệp Nhật vẫn lựa chọn Việt Nam như điểm đến hàng đầu khi quyết định đầu tư. Điều này cũng được thể hiện rõ qua việc dịch chuyển chức năng sản xuất.

Lưu ý những thách thức trong cung ứng nội địa

Theo Jetro, để cải thiện tỷ lệ nội địa hóa, Việt Nam cũng cần lưu ý tới những thách thức trong cung ứng nội địa khi tỷ lệ trả lời “chất lượng và năng lực kỹ thuật của các nhà cung ứng nội địa không đủ” cao nhất ASEAN, đạt 60,9%. Tỷ lệ doanh nghiệp trả lời “không có nhà sản xuất nào có thể cung cấp nguyên liệu thô trong nước” là 55%, đứng sau Indonesia.

Báo cáo của Jetro cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp trả lời đã dịch chuyển chức năng sản xuất từ các quốc gia và khu vực khác sang Việt Nam trong 5 năm gần đây (2019–2024) là 24,8%, cao nhất cả về số lượng và tỷ lệ trong khu vực châu Á/châu Đại Dương. Xét theo ngành nghề, các ngành như sắt/kim loại màu/kim loại, linh kiện thiết bị điện/điện tử, sản phẩm nhựa... đều nằm trong nhóm dẫn đầu.

Phân tích rõ hơn xu hướng này, ông Haruhiko Ozasa cho biết, việc dịch chuyển sản xuất từ Nhật Bản và Trung Quốc sang ASEAN đã gia tăng rõ rệt, với Việt Nam là điểm đến chủ yếu. Trong tổng số 176 trường hợp dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang ASEAN, Việt Nam chiếm hơn một nửa với 90 trường hợp. Các lý do được đưa ra bao gồm “ứng phó với việc dịch chuyển sản xuất của khách hàng”, “đối phó với thuế quan do chiến tranh thương mại Mỹ-Trung” và “tránh sự mập mờ trong hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc”.

Về quy mô dịch chuyển sản xuất từ Nhật Bản và Trung Quốc sang Việt Nam, có khoảng 60% doanh nghiệp trả lời là dịch chuyển từ “1 đến 50%”, nhưng cũng có khoảng 10-20% doanh nghiệp trả lời đã dịch chuyển hoàn toàn “100%” sản xuất.

Chia sẻ về triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai của Việt Nam, vị trưởng đại diện Jetro tại Việt Nam cho hay, các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam rất lạc quan về điều này. Nêu ví dụ cụ thể về triển vọng tỷ lệ cung ứng nội địa trong 1-2 năm tới, ông cho biết, tại Việt Nam, các doanh nghiệp Nhật trả lời “mở rộng” là 50,9% (tăng 7,7 điểm so với năm trước), cao hơn đáng kể so với mức trung bình của ASEAN là 37,7%. So với các quốc gia có doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động, Việt Nam xếp sau Ấn Độ và Pakistan, nhưng đứng đầu ASEAN. Xét theo từng ngành nghề, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực như thiết bị điện/điện tử, dệt may/quần áo và máy móc nói chung đều thể hiện mong muốn mở rộng cung ứng nội địa ở mức cao.

Nâng cấp “vị thế” trong chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Việt

Chia sẻ với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Bá Hùng - chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, hiện nay phần lớn các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hướng ra xuất khẩu tại Việt Nam đều nhập khẩu đầu vào. Doanh nghiệp nội địa cung ứng được cho các doanh nghiệp FDI trên còn đang rất yếu. Vì vậy, cần thúc đẩy tăng kết nối tốt hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI để tăng tỷ lệ nội địa hóa, giúp các doanh nghiệp trong nước “lớn lên”, để tham gia sâu rộng hơn vào sân chơi chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, đầu tư vào cơ sở hạ tầng tốt hơn nữa để nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh Việt Nam so với các nước trong khu vực, để giữ chân các FDI hiện hữu cũng như thu hút thêm các FDI chất lượng, trong bối cảnh biến động thương mại toàn cầu do chính sách thuế quan của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Trump.

Còn theo PGS.TS Phạm Thị Thu Trà - Chủ nhiệm nhóm bộ môn Kinh tế và Tài chính, Đại học RMIT, điều cốt lõi là Việt Nam cần nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, không chỉ dừng lại ở công đoạn gia công lắp ráp. Đây cũng là khuyến nghị chính sách lâu nay — doanh nghiệp Việt cần tham gia sản xuất các sản phẩm cường độ vốn cao hơn hoặc tích hợp theo chiều dọc, để nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng cho quốc gia. Nếu doanh nghiệp không thể tự "nâng cấp" vị thế, Chính phủ cần có các biện pháp hỗ trợ để giúp họ tiến xa hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không kịp thời chuyển mình, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng sang Việt Nam – vốn có thể được thúc đẩy bởi đường lối đối ngoại của Trump – có nguy cơ dẫn đến một vấn đề nghiêm trọng: tỷ trọng của các ngành công nghiệp giá trị thấp sẽ tiếp tục gia tăng. Hiện tại, các ngành công nghiệp công nghệ thấp chiếm khoảng 65-70% trong lĩnh vực chế biến chế tạo tại Việt Nam, so với mức chỉ 18% trên toàn cầu. Điều này khiến giá trị gia tăng từ xuất khẩu vẫn ở mức thấp, và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn bị giới hạn ở vị trí thấp nhất trong chuỗi giá trị. Kết quả là, Việt Nam có nguy cơ trở thành một "xưởng lắp ráp" mới của thế giới, thay vì nâng cao vị thế và giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thảo Miên

Đọc thêm

TP. Hồ Chí Minh đang mở ra chu kỳ hút vốn mới, nhưng tiêu chuẩn của nhà đầu tư đã thay đổi

TP. Hồ Chí Minh đang mở ra chu kỳ hút vốn mới, nhưng tiêu chuẩn của nhà đầu tư đã thay đổi

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Cơ hội đầu tư tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới: Bức tranh toàn cảnh và khuyến nghị pháp lý” diễn ra ngày 22/5, nhiều chuyên gia nhận định TP. Hồ Chí Minh đang bước vào chu kỳ phát triển mới nhờ lực đẩy từ cải cách thể chế, cơ chế đặc thù và định hướng xây dựng trung tâm tài chính quốc tế. Trong bối cảnh đó, thành phố tiếp tục được kỳ vọng là điểm đến của dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Huế tìm nguồn lực đầu tư phát triển hệ đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á

Huế tìm nguồn lực đầu tư phát triển hệ đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á

Huế đang tham vấn ý kiến các chuyên gia trong và ngoài nước, đồng thời tìm nguồn lực đầu tư nhằm phát triển hệ đầm phá nước lợ 22.000 ha, được ghi nhận có diện tích lớn nhất Đông Nam Á: Tam Giang - Cầu Hai.
UAE rời OPEC: Việt Nam cần tăng cường ngoại giao kinh tế để đa dạng hóa nguồn cung năng lượng

UAE rời OPEC: Việt Nam cần tăng cường ngoại giao kinh tế để đa dạng hóa nguồn cung năng lượng

(TBTCO) - Biến động mới trên thị trường dầu mỏ toàn cầu sau quyết định rời OPEC của UAE đang đặt ra nhiều thách thức cho các nền kinh tế phụ thuộc nhập khẩu năng lượng như Việt Nam. Tuy nhiên, theo PGS. TS. Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, đây cũng là "thời điểm vàng" để Việt Nam tăng cường ngoại giao kinh tế, đa dạng hóa nguồn cung trong dài hạn.
Quảng Ninh tiếp tục nằm trong nhóm dẫn đầu về điều hành kinh tế

Quảng Ninh tiếp tục nằm trong nhóm dẫn đầu về điều hành kinh tế

(TBTCO) - Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những địa phương có chất lượng điều hành kinh tế tốt của cả nước khi đồng thời đạt kết quả cao ở các chỉ số cải cách hành chính, hài lòng người dân, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và hiệu quả kinh tế tư nhân năm 2025.
Mở rộng nguồn lực vốn từ xã hội cho các dự án hạ tầng

Mở rộng nguồn lực vốn từ xã hội cho các dự án hạ tầng

(TBTCO) - Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển các kênh huy động vốn mới. Dự thảo Nghị định về trái phiếu PPP được kỳ vọng sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, mở rộng nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược và thúc đẩy vai trò của thị trường vốn.
697 thủ tục hành chính và 1.754 điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm

697 thủ tục hành chính và 1.754 điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm

(TBTCO) - 321 thủ tục hành chính được phân cấp cho địa phương; 697 thủ tục hành chính và 1.754 điều kiện kinh doanh được cắt giảm; 704 thủ tục hành chính được đơn giản hóa; khoảng 23 nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ được cắt giảm mỗi năm… Đây là kết quả từ 11 nghị quyết của Chính phủ cùng các văn bản, thông tư được ban hành trong gần 1 tháng qua.
Miền Trung cân bằng không gian phát triển sau sáp nhập

Miền Trung cân bằng không gian phát triển sau sáp nhập

(TBTCO) - Không xem nhẹ khu vực nào và không tập trung toàn bộ nguồn lực đầu tư tại khu vực trung tâm, các tỉnh miền Trung đang tái cấu trúc không gian phát triển bền vững theo hướng “cân bằng” dòng vốn đầu tư trên toàn địa bàn.
Nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững

Nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững

(TBTCO) - Chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là con đường tất yếu để Việt Nam tăng trưởng hai con số, tiến tới phát triển nhanh và bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều