Việt Nam được đánh giá có nhiều triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai

Thảo Miên
(TBTCO) - Cải thiện tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu, linh kiện, thiết bị sản xuất trong nước của Việt Nam có tác động tích cực đến việc mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh cũng như quyết định đầu tư vào Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài. Với tỷ lệ nội địa hóa cải thiện ổn định đều qua từng năm, Việt Nam được doanh nghiệp Nhật đánh giá có nhiều triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai.
aa
Việt Nam được đánh giá có nhiều triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai
Tỷ lệ cung ứng nội địa tại Việt Nam hiện đạt 36,6%, giảm 5,3 điểm so với khảo sát năm trước (41,9%). Ảnh tư liệu

Tỷ lệ nội địa hóa đạt 36,6%

Theo kết quả “Khảo sát thực trạng của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài năm 2024” (Ấn bản Việt Nam), được Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro) tại Hà Nội công bố vào cuối tháng 1/2025, tỷ lệ cung ứng nội địa tại Việt Nam đạt 36,6%, giảm 5,3 điểm so với khảo sát năm trước (41,9%). Tỷ lệ cung ứng từ Nhật Bản đạt 33,6%, từ Trung Quốc đạt 12,6% và từ ASEAN đạt 11,3%. Trong tổng số cung ứng, tỷ lệ cung ứng từ các doanh nghiệp địa phương tại Việt Nam là 15,7%, giảm 1,5 điểm so với năm trước.

Về nguồn cung ứng tại Việt Nam trong năm 2024 theo ngành nghề, tỷ lệ cung ứng nội địa của các ngành thiết bị điện/điện tử và linh kiện của chúng, hóa chất/dược phẩm và dệt may/quần áo đều dưới 30%. Trong khi đó, các ngành thực phẩm, giấy/sản phẩm gỗ/in ấn, cao su/gốm sứ/đất đá đều có hơn 50% tỷ lệ cung ứng từ các doanh nghiệp địa phương.

Theo Jetro, với con số 36,6%, tỷ lệ cung ứng nội địa tại Việt Nam hiện tương đương với Malaysia và Philippines. Lý giải một phần nguyên nhân của việc giảm tỷ lệ cung ứng nội địa của các doanh nghiệp Việt đối với các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam trong năm qua, ông Haruhiko Ozasa - Trưởng đại diện Jetro tại Việt Nam cho biết do yếu tố khách quan. Vào năm 2024, đồng Yên suy yếu, điều này dẫn đến tỷ lệ cung ứng từ Nhật Bản tăng cao (tăng 2,7 điểm so với năm trước).

Cũng theo ông Haruhiko Ozasa, chi phí nguyên vật liệu và linh kiện cũng như chi phí logistics gia tăng do lạm phát toàn cầu đã có tác động lớn đến chính sách cung ứng của Việt Nam trong 5 năm gần đây (2019 - 2024), nhưng cả hai yếu tố này đều thấp hơn mức trung bình của ASEAN.

Triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai

Mặc dù tỷ lệ nội địa hóa tại thị trường Việt Nam vẫn ở mức thấp so với Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia nhưng tốc độ tăng trưởng tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam trong 10 năm qua là rất tốt, năm sau cao hơn năm trước (trừ năm 2024 do đồng Yên suy yếu). Cùng với các lợi thế về môi trường đầu tư vượt trội so với các quốc gia trong khu vực, các doanh nghiệp Nhật vẫn lựa chọn Việt Nam như điểm đến hàng đầu khi quyết định đầu tư. Điều này cũng được thể hiện rõ qua việc dịch chuyển chức năng sản xuất.

Lưu ý những thách thức trong cung ứng nội địa

Theo Jetro, để cải thiện tỷ lệ nội địa hóa, Việt Nam cũng cần lưu ý tới những thách thức trong cung ứng nội địa khi tỷ lệ trả lời “chất lượng và năng lực kỹ thuật của các nhà cung ứng nội địa không đủ” cao nhất ASEAN, đạt 60,9%. Tỷ lệ doanh nghiệp trả lời “không có nhà sản xuất nào có thể cung cấp nguyên liệu thô trong nước” là 55%, đứng sau Indonesia.

Báo cáo của Jetro cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp trả lời đã dịch chuyển chức năng sản xuất từ các quốc gia và khu vực khác sang Việt Nam trong 5 năm gần đây (2019–2024) là 24,8%, cao nhất cả về số lượng và tỷ lệ trong khu vực châu Á/châu Đại Dương. Xét theo ngành nghề, các ngành như sắt/kim loại màu/kim loại, linh kiện thiết bị điện/điện tử, sản phẩm nhựa... đều nằm trong nhóm dẫn đầu.

Phân tích rõ hơn xu hướng này, ông Haruhiko Ozasa cho biết, việc dịch chuyển sản xuất từ Nhật Bản và Trung Quốc sang ASEAN đã gia tăng rõ rệt, với Việt Nam là điểm đến chủ yếu. Trong tổng số 176 trường hợp dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang ASEAN, Việt Nam chiếm hơn một nửa với 90 trường hợp. Các lý do được đưa ra bao gồm “ứng phó với việc dịch chuyển sản xuất của khách hàng”, “đối phó với thuế quan do chiến tranh thương mại Mỹ-Trung” và “tránh sự mập mờ trong hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc”.

Về quy mô dịch chuyển sản xuất từ Nhật Bản và Trung Quốc sang Việt Nam, có khoảng 60% doanh nghiệp trả lời là dịch chuyển từ “1 đến 50%”, nhưng cũng có khoảng 10-20% doanh nghiệp trả lời đã dịch chuyển hoàn toàn “100%” sản xuất.

Chia sẻ về triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai của Việt Nam, vị trưởng đại diện Jetro tại Việt Nam cho hay, các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam rất lạc quan về điều này. Nêu ví dụ cụ thể về triển vọng tỷ lệ cung ứng nội địa trong 1-2 năm tới, ông cho biết, tại Việt Nam, các doanh nghiệp Nhật trả lời “mở rộng” là 50,9% (tăng 7,7 điểm so với năm trước), cao hơn đáng kể so với mức trung bình của ASEAN là 37,7%. So với các quốc gia có doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động, Việt Nam xếp sau Ấn Độ và Pakistan, nhưng đứng đầu ASEAN. Xét theo từng ngành nghề, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực như thiết bị điện/điện tử, dệt may/quần áo và máy móc nói chung đều thể hiện mong muốn mở rộng cung ứng nội địa ở mức cao.

Nâng cấp “vị thế” trong chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Việt

Chia sẻ với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Bá Hùng - chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, hiện nay phần lớn các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hướng ra xuất khẩu tại Việt Nam đều nhập khẩu đầu vào. Doanh nghiệp nội địa cung ứng được cho các doanh nghiệp FDI trên còn đang rất yếu. Vì vậy, cần thúc đẩy tăng kết nối tốt hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI để tăng tỷ lệ nội địa hóa, giúp các doanh nghiệp trong nước “lớn lên”, để tham gia sâu rộng hơn vào sân chơi chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, đầu tư vào cơ sở hạ tầng tốt hơn nữa để nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh Việt Nam so với các nước trong khu vực, để giữ chân các FDI hiện hữu cũng như thu hút thêm các FDI chất lượng, trong bối cảnh biến động thương mại toàn cầu do chính sách thuế quan của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Trump.

Còn theo PGS.TS Phạm Thị Thu Trà - Chủ nhiệm nhóm bộ môn Kinh tế và Tài chính, Đại học RMIT, điều cốt lõi là Việt Nam cần nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, không chỉ dừng lại ở công đoạn gia công lắp ráp. Đây cũng là khuyến nghị chính sách lâu nay — doanh nghiệp Việt cần tham gia sản xuất các sản phẩm cường độ vốn cao hơn hoặc tích hợp theo chiều dọc, để nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng cho quốc gia. Nếu doanh nghiệp không thể tự "nâng cấp" vị thế, Chính phủ cần có các biện pháp hỗ trợ để giúp họ tiến xa hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không kịp thời chuyển mình, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng sang Việt Nam – vốn có thể được thúc đẩy bởi đường lối đối ngoại của Trump – có nguy cơ dẫn đến một vấn đề nghiêm trọng: tỷ trọng của các ngành công nghiệp giá trị thấp sẽ tiếp tục gia tăng. Hiện tại, các ngành công nghiệp công nghệ thấp chiếm khoảng 65-70% trong lĩnh vực chế biến chế tạo tại Việt Nam, so với mức chỉ 18% trên toàn cầu. Điều này khiến giá trị gia tăng từ xuất khẩu vẫn ở mức thấp, và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn bị giới hạn ở vị trí thấp nhất trong chuỗi giá trị. Kết quả là, Việt Nam có nguy cơ trở thành một "xưởng lắp ráp" mới của thế giới, thay vì nâng cao vị thế và giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thảo Miên

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80