VietinBank: Hài hòa lợi ích nền kinh tế và nhà đầu tư

Minh Ngọc
VietinBank đã có 3 bước đột phá quan trọng là đổi mới mô hình tăng trưởng, đổi mới phương thức kinh doanh và quản trị chi phí hiệu quả.
aa

vtb

VietinBank giữ vững vai trò ngân hàng chủ lực, trụ cột trong nền kinh tế.

Với việc triển khai có hiệu quả phương án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch kinh doanh trung hạn 2018 - 2020, VietinBank đã có 3 bước đột phá quan trọng là đổi mới mô hình tăng trưởng, đổi mới phương thức kinh doanh và quản trị chi phí hiệu quả.

Đây là nền tảng để VietinBank nâng cao năng lực tài chính phát huy vai trò NHTM Nhà nước chủ lực tiên phong trong thực hiện các chính sách của Chính phủ và NHNN đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước, đồng thời hứa hẹn đột phá mới trong hoạt động trung và dài hạn, đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư.

Bước đột phá về chất lượng hoạt động

Báo cáo của Hội đồng quản trị VietinBank trình Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2020 cho biết, kết thúc năm 2019, hoạt động kinh doanh của VietinBank đạt được kết quả toàn diện, tiếp tục giữ vững vai trò là ngân hàng nhà nước lớn, trụ cột, chủ lực của nền kinh tế, tiên phong thực hiện các chính sách của Chính phủ và NHNN, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Trong năm 2019, VietinBank đã sắp xếp lại, thành lập và kiện toàn hoạt động 11 khối nghiệp vụ. Hoạt động kinh doanh chuyển đổi mạnh mẽ từ dựa vào tăng trưởng quy mô tín dụng là chủ yếu sang đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển hiệu quả, trên cơ sở nền tảng ngân hàng (NH) hiện đại và đa dịch vụ.

Động lực và sức mạnh nội tại của hệ thống được củng cố với việc thúc đẩy phát triển văn hóa doanh nghiệp (DN) kết hợp cùng việc triển khai “Chương trình 6 hóa” (tiêu chuẩn hóa, đơn giản hóa, tối ưu hóa, tư động hóa, cá thể hóa trách nhiệm và hợp tác hóa).

Đặc biệt, với việc tăng trưởng quy mô hợp lý đi đôi với kiểm soát chất lượng tăng trưởng, cơ cấu dư nợ, hiệu quả kinh doanh, cơ cấu thu nhập của VietinBank trong năm 2019 đã được cải thiện mạnh mẽ nhiều chỉ tiêu tăng trưởng mạnh nhất từ trước đến nay, vượt kế hoạch Đại hội đồng cổ đông để ra.

Tính đến 31/12/2019, tổng tài sản hợp nhất của VietinBank tăng 6,6% đạt 1,24 triệu tỷ đồng; dư nợ tăng 7,3% so với năm 2018, đạt 953 nghìn tỷ đồng. Chất lượng tín dụng kiểm soát chặt chẽ theo tuân thủ quy định pháp luật và các giới hạn an toàn của NHNN, tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,2%.

Lợi nhuận trước thuế (LNTT) riêng lẻ năm 2019 đạt 11.461 tỷ đồng, tăng 85% so với năm 2018, đạt 127% kế hoạch năm, lợi nhuận trước thuế hợp nhất tăng 79,6% so với năm 2018 đạt 124% kế hoạch năm. “LNTT tăng cao là kết quả của việc gia tăng hiệu quả hoạt động theo đúng định hướng thông qua tái cơ cấu danh mục cho vay, nâng cao hiệu quả danh mục tài sản có sinh lời đẩy mạnh thu nhập ngoài lãi, đặc biệt là thu dịch vụ, thu từ kinh doanh ngoại tệ và đầu tư chứng khoán” - ông Lê Đức Thọ, Chủ tịch HĐQT VietinBank cho biết.

Cụ thể hiệu quả sinh lời từ lãi được cải thiện đáng kể với mức Nim tăng lên 2,8% so với mức 2% của năm 2018. Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ tăng 37,4% đạt tỷ trọng gần 12% tổng thu nhập hoạt động. Doanh số và thị phần kinh doanh ngoại hối đứng hàng đầu thị trường liên NH và thị trường số 1.

Đồng thời chi phí hoạt động được kiểm soát hiệu quả, chi phí hoạt động hợp nhất tăng 11,7% thấp hơn tốc độ tăng 42,4% của thu nhập hoạt động. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động CIR năm 2019 tiếp tục giảm về mức 38,8% thấp nhất trong 10 năm qua.

Chất lượng hoạt động và năng lực tài chính tăng là nền tảng để VietinBank tiếp tục giữ vững vai trò là NH tiên phong trong việc thực hiện các chính sách của Chính phủ và NHNN, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước.

Không chỉ cung ứng đủ vốn và đáp ứng các dịch vụ tối ưu cho người dân và DN, trong năm 2019, VietinBank đã giảm lãi suất cho vay và luôn duy trì mặt bằng lãi suất cho vay trong nhóm thấp nhất thị trường, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giúp DN và người dân thuận tiện trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng và các sản phẩm dịch vụ NH với chi phí thấp nhất.

Tín dụng hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ngành nghề, DN có lợi thế và tiềm năng phát triển thuộc đối tượng được Chính phủ và NHNN khuyến khích. Các chương trình tín dụng đồng hành cùng các ngành, vùng, và các địa phương đã góp phần khơi dậy những tiềm năng riêng có đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Đặc biệt dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, các giải pháp NH toàn diện mà VietinBank đã phát triển cho các khách hàng từ DN, hộ gia đình, cá nhân đến các cơ quan nhà nước như: Kho bạc Nhà nước, Thuế, Hải quan… đã góp phần tiết giảm chi phí và gia tăng cơ hội cho người dân và DN, từ đó góp phần tích cực vào công cuộc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tiền đề để tăng tốc

Bước sang năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam có độ mở cửa kinh tế khá lớn. Sự đứt gãy chuỗi giá trị và đình đốn sản xuất do nhu cầu người dân trong nước và quốc tế hạ xuống mức tiêu dùng tối thiểu đã lan rộng khó khăn ra hầu hết các ngành hàng, DN trong nền kinh tế đặc biệt xuất nhập khẩu. Hoạt động cung ứng tín dụng, dịch vụ NH nói chung và VietinBank cũng bị trì trệ theo.

Song với quan điểm đây là giai đoạn toàn nền kinh tế phải đoàn kết vượt qua khó khăn, “việc hi sinh một phần thu nhập của VietinBank trong giai đoạn này là hành động cần thiết phải thực hiện, thực hiện đúng vai trò đồng hành, hỗ trợ, chia sẻ của ngành NH đối với khách hàng DN, cá nhân theo đúng chủ trương của Chính phủ, NHNN đồng thời thắt chặt hơn nữa mối quan hệ cộng sinh cùng nhau vượt khó và phát triển của DN và NH” - Chủ tịch HĐQT VietinBank Lê Đức Thọ nhận định.

vtb
VietinBank tiên phong trong thực hiện các chính sách của Chính phủ và NHNN đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Kết quả của sự chia sẻ này dự kiến sẽ làm giảm lợi nhuận của VietinBank trong năm 2020. Song bức tranh hoạt động tổng thể của VietinBank quý I/2020 cũng cho thấy những điểm tựa để NH có thể phục hồi tốc độ tăng trưởng bứt phá sau dịch như cơ cấu khách hàng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của phân khúc có hiệu quả sinh lời cao như bán lẻ và SMEs chiếm tỷ trọng khoảng 56% tổng dư nợ (năm 2018 chỉ chiếm 49%).

Tổng thu nhập hoạt động của VietinBank đạt 10.685 tỷ đồng, tăng 10,93% so với cùng kỳ năm 2019. Cơ cấu thu nhập từng bước được cải thiện, tỷ trọng thu ngoài lãi đã tăng từ 20% lên 23% tổng thu nhập hoạt động.

Lũy kế 3 tháng năm 2020, thu nhập ngoài lãi (bao gồm cả bảo lãnh) của VietinBank đạt 2.462 tỷ đồng, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm 2019. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất lũy kế 3 tháng năm 2020 đạt 2.974 tỷ đồng. Đây là một kết quả kinh doanh khả quan trong bối cảnh VietinBank dành rất nhiều ưu đãi và hỗ trợ cho DN, người dân cũng như nền kinh tế.

Hơn thế, hiệu quả quản trị chi phí của VietinBank liên tục cải thiện sau bứt phá năm 2019. Mặc dù phải tập trung cho hoạt động phòng dịch và hỗ trợ DN nhưng chi phí hoạt động chỉ tăng 2,5% so cùng kỳ 2019, tỷ lệ CIR đã giảm xuống mức 31% trong quý 1/2020. Đây là mức thấp nhất của VietinBank từ trước tới nay và cũng là mức thấp nhất trong hệ thống NH.

Đây cũng là kết quả từ sự chủ động ngay từ đầu năm của VietinBank trong việc xây dựng các kịch bản hành động để ứng phó với tình hình diễn biến dịch bệnh và có kế hoạch phục hồi mạnh mẽ trong hoạt động kinh doanh sau khi dịch bệnh kết thúc. Lại đặt trong bối cảnh năm cuối thực hiện phương án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch kinh doanh trung hạn 2018 - 2020, NH đang tập trung cải thiện hiệu quả sinh lời tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh doanh, cơ cấu khách hàng, chú trọng quản lý chất lượng tăng trưởng với mục tiêu nợ xấu kiểm soát ở mức dưới 2%.

VietinBank có kế hoạch tăng vốn tự có từ nguồn lợi nhuận tích lũy và việc này đang được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý để thực hiện. Trong bối cảnh đó, VietinBank tiếp tục định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2020 với tốc độ hợp lý, đảm bảo tuân thủ hạn mức tăng trưởng tín dụng được NHNN giao, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng chính đáng của nền kinh tế.

Về chỉ tiêu lợi nhuận, VietinBank đang trình NHNN và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trong đó, VietinBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2020 bảo đảm hiệu quả kinh doanh và cải thiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở tiếp tục bám sát diễn biến và tác động của dịch Covid-19 dựa trên cơ sở phê duyệt của các cấp có thẩm quyền.

Qua đó chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, người dân và nền kinh tế theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, đảm bảo cân bằng giữa vai trò, trách nhiệm của NHTM NN trụ cột, chủ lực của nền kinh tế và lợi ích của cổ đông, nhà đầu tư và người lao động.

vtb
Lũy kế 3 tháng năm 2020, thu nhập ngoài lãi (bao gồm cả bảo lãnh) của VietinBank đạt 2.462 tỷ đồng, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, mô hình tăng trưởng sẽ tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, với các giải pháp kinh doanh mới mang tính đột phá như phát triển các chuỗi liên kết theo hướng thực tế, chặt chẽ và hiệu quả, cung cấp tổng thể giải pháp dịch vụ tài chính cho từng khách hàng, nhóm khách hàng, phát triển các dịch vụ hiện đại trên nền tảng công nghệ tiên tiến đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán. Đồng thời kiện toàn mô hình tổ chức, khai thác các địa bàn kinh tế trọng điểm của cả nước; các lĩnh vực trong chiến lược phát triển ngành và vùng kinh tế của VietinBank.

VietinBank cũng sẽ tiếp tục bám sát phương án tăng vốn điều lệ, khai thác tối đa vốn tự có từ lợi nhuận tích lũy nội bộ, chia cổ tức bằng cổ phiếu, đề xuất phát triển các kênh tăng vốn mới, phát hành trái phiếu thứ cấp cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư góp vốn.

Đây sẽ là nền tảng để ngay sau khi dịch bệnh kết thúc, VietinBank có thể phục hồi mạnh mẽ cùng chiến lược phát triển của mình đến năm 2030 cùng kế hoạch kinh doanh trung hạn 2021 - 2023; giữ vững vai trò NH chủ lực, trụ cột trong nền kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh trong nước cũng như vươn lên tầm khu vực đáp ứng nhu cầu hội nhập./.

Minh Ngọc

Minh Ngọc

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 30/3, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.100 đồng/USD, đi ngang so với phiên cuối tuần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,25% lên 100,15 điểm, cho thấy USD tiếp tục mạnh lên. Trong nước, tỷ giá USD tự do bật tăng 110 đồng, vượt mốc 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,090 ▲110K 17,390 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼50K 16,100 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 ▲140K 17,340 ▲140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 ▲140K 17,290 ▲140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 ▲140K 17,270 ▲140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
NL 99.90 15,770 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▼50K
Trang sức 99.9 16,570 ▲100K 17,270 ▲100K
Trang sức 99.99 16,580 ▲100K 17,280 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 ▲10K 17,382 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 ▲10K 17,383 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 ▲10K 1,736 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 ▲10K 1,737 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 ▲10K 1,721 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 ▲990K 170,396 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 ▲750K 129,238 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 ▲68K 11,719 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 ▲610K 105,141 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 ▲583K 100,494 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 ▲417K 71,923 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cập nhật: 30/03/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17507 17779 18355
CAD 18391 18668 19285
CHF 32271 32654 33294
CNY 0 3470 3830
EUR 29633 29904 30933
GBP 34047 34437 35375
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14758 15347
SGD 19878 20160 20688
THB 717 780 833
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,794 29,818 31,049
JPY 160.23 160.52 169.16
GBP 34,307 34,400 35,364
AUD 17,755 17,819 18,380
CAD 18,591 18,651 19,217
CHF 32,572 32,673 33,431
SGD 20,019 20,081 20,746
CNY - 3,776 3,894
HKD 3,293 3,303 3,420
KRW 16 16.69 18.06
THB 765.72 775.18 824.36
NZD 14,798 14,935 15,280
SEK - 2,735 2,815
DKK - 3,987 4,102
NOK - 2,655 2,732
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,116.77 - 6,864.71
TWD 742.59 - 894.09
SAR - 6,895.92 7,218.79
KWD - 83,461 88,258
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17684 17784 18710
CAD 18591 18691 19706
CHF 32529 32559 34145
CNY 3743.7 3768.7 3904.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29831 29830 31586
GBP 34371 34421 36174
HKD 0 3355 0
JPY 161.1 161.6 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14868 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20044 20174 20895
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16840000 16840000 17140000
SBJ 15000000 15000000 17140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80