Vốn dồi dào, nhưng "khe cửa" cho vay bất động sản vẫn hẹp

Chí Tín
(TBTCO) - Nguồn vốn đang trong trạng thái dồi dào, nhưng các ngân hàng vẫn khó đẩy mạnh cho vay do một mặt không thể hạ chuẩn tín dụng. Mặt khác, từ tháng 10/2023, các ngân hàng vẫn tiếp tục phải thực hiện lộ trình giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn được phép cho vay trung và dài hạn. Điều này cho thấy việc rót vốn cho các khoản vay dài hạn đang tiếp tục phải khép chặt hơn và khe cửa cho cho vay bất động sản vốn đang khó sẽ còn khó hơn.
aa
Vốn dồi dào, nhưng
Tháng 10/2023, các ngân hàng tiếp tục thực hiện lộ trình giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn, được phép cho vay trung và dài hạn. Ảnh: TL

Sốt ruột tìm kiếm khách hàng

Diễn biến thị trường tiền tệ cho thấy các ngân hàng vẫn đang đối diện với tình trạng khó tìm đầu ra cho dòng vốn. Một trong những biểu hiện cho thấy, các ngân hàng vẫn sẵn sàng mua tín phiếu với lãi suất rất thấp để “tạm cất tiền”, trong những ngày gần đây.

Trong phiên đấu thầu ngày 12/10, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục phát hành tín phiếu hút vào gần 20 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở. Trước đó trong các ngày từ 9 đến 12/10, NHNN cũng đều đặn hút tiền từ thị trường mở thông qua bán tín phiếu với tổng giá trị trong những ngày lên tới gần 55 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý là lãi suất tín phiếu trong tuần thứ hai của tháng 10 đã quay đầu giảm so với tuần đầu tháng 10. Cụ thể trong tuần đầu tháng 10, lãi suất tín phiếu một của một số phiên đấu thầu đạt mức 1,28 - 1,3%, nhưng sang tuần thứ hai thì mặt bằng lãi suất giảm xuống chỉ còn bình quân khoảng từ 0,8 - 1%.

Khái niệm về tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn

Thông tư 08 là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN. Hiện tại ngoài các nội dung sửa đổi, các nội dung khác của Thông tư 22 vẫn còn hiệu lực, trong đó có khái niệm tổng dư nợ cho vay trung hạn, dài hạn. Đó là dư nợ của các khoản cho vay có thời hạn còn lại trên 1 năm và dư nợ gốc bị quá hạn của khoản cho vay, ủy thác cho vay, số dư mua, đầu tư giấy tờ có giá, số dư ủy thác mua, đầu tư giấy tờ có giá theo quy định pháp luật.

Cùng với lãi suất tín phiếu, lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng cũng đang giảm thấp. Hiện tại, lãi suất cho vay qua đêm chỉ còn 0,37%, cũng có xu hướng giảm so với đầu tháng 10 (lãi suất qua đêm hôm 5/10 ở mức 1,32%). Ở các kỳ hạn khác, lãi suất kỳ hạn 1 tháng hiện đang ở mức khoảng 1,58%, kỳ hạn 3 tháng là 3,48%. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động ngoài dân cư thậm chí còn đang mức cao hơn so với mức lãi suất trên, cụ thể lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 1 tháng ngoài thị trường dân cư hiện đang phổ biến ở mức khoảng 3 - 4,4%; kỳ hạn 3 tháng khoảng 3,3 - 4,7%....

Trong bối cảnh hiện tại, NHNN và các ngân hàng thương mại vẫn khá sốt ruột trong việc đẩy mạnh tín dụng để khơi thông dòng vốn. NHNN cho biết hiện đang tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng các hình thức cấp tín dụng trên cơ sở ứng dụng công nghệ số. Ngành Ngân hàng cũng đang rà soát để giảm các thủ tục không cần thiết nhằm tạo thuận lợi hơn cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Thế khó với bất động sản

Mặc dù dòng tiền dồi dào và ngành ngân hàng cũng khá nóng lòng tìm kiếm khách hàng, nhưng mặt khác, quan điểm của NHNN vẫn tỏ ra khá “cứng rắn” trong việc đảm bảo các yêu cầu về an toàn tín dụng. Mới đây, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN, cho biết phía ngân hàng vẫn tiếp tục tháo gỡ các điều kiện thủ tục tiếp cận tín dụng. Tuy nhiên, việc này cũng có hai mặt. Một mặt khác nếu như ngân hàng không bảo đảm các yêu cầu tối thiểu trong điều kiện tín dụng có thể dẫn đến không an toàn lành mạnh các tổ chức tín dụng và an toàn tài chính quốc gia. “Vì thế, quan điểm NHNN là bảo đảm hài hòa an toàn vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng tín dụng” - ông Tú nói.

Hiện tại không những phải đảm bảo các yêu cầu tín dụng như trước đây, việc cho vay thậm chí đang bị bó hẹp hơn với các khoản vay dài hạn bởi kể từ tháng 10/2023, các ngân hàng buộc phải giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 34% xuống 30%.

Đây là nội dung thực hiện theo lộ trình đã được quy định Thông tư số 08/2020/TT-NHNN. Theo nội dung tại Thông tư 08, các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn theo lộ trình giảm dần từ 40% thời điểm năm 2020 dần xuống mốc 30%. Lộ trình giảm dần theo từng năm và mốc thời gian rơi vào tháng 10 hàng năm trong suốt giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023.

Ông Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia kinh tế - tài chính cho biết, với việc thực hiện quy định tại Thông tư 08, trước đây 100 đồng vốn huy động ngắn hạn sẽ được cho vay 34 đồng trung và dài hạn, nhưng giờ sẽ chỉ được cho vay 30 đồng. Với quy mô huy động toàn nền kinh tế hàng triệu tỷ đồng thì con số 4% bị giảm đi như trên cũng là số tiền khá lớn.

Với tính chất này, các ngân hàng sẽ đối diện với những khó khăn trong việc giải ngân vốn cho các dự án trung và dài hạn. Theo đó, kỳ vọng thị trường bất động sản sẽ dễ thở hơn nhờ dòng năng lượng mới từ ngân hàng có thể chưa thể thành hiện thực, do vốn cho vay bất động sản phần lớn là vốn trung và dài hạn. Trong đó, việc cho vay ở cả góc độ dự án và góc độ cho vay người mua nhà đều phải đối diện với những hạn chế này do chính các ngân hàng cũng đang bị trói chân bởi việc phải thực hiện lộ trình tại Thông tư 08.

Trước áp lực đang gia tăng như trên, vừa qua một số doanh nghiệp bất động sản có kiến nghị đề xuất hoãn áp dụng Thông tư 08 để giảm bớt khó khăn cho thị trường bất động sản. Tuy nhiên, ở góc độ chuyên gia độc lập, ông Hiếu cho biết, việc vẫn thực hiện Thông tư 08 theo lộ trình là cần thiết, vì vốn huy động ngắn hạn nếu sử dụng tỷ lệ lớn cho vay trung và dài hạn sẽ là yếu tố rất rủi ro cho hoạt động ngân hàng./.

Chí Tín

Đọc thêm

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80