Agribank đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

(TBTCO) - Chiều 24/3/2023, tại Hà Nội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) trang trọng tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày thành lập (26/3/1988- 26/3/2023). Đây là sự kiện quan trọng ý nghĩa đối với Agribank, ghi dấu hành trình 35 năm xây dựng và trưởng thành, là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước đối với những đóng góp tích cực của Agribank cho thành quả phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đặc biệt là sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
aa

Hoạt động tăng trưởng ổn định cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng

Tại buổi lễ, ông Phạm Đức Ấn - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Agribank đã khái quát quá trình 35 năm phát triển của Agribank. Trước yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước, tháng 3/1988, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức lại thành 2 cấp gồm Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chức năng quản lý, điều hành chính tiền tệ và các ngân hàng chuyên doanh thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, ngân hàng.

Trải qua mỗi thời kỳ phát triển với những tên gọi khác nhau, tuy nhiên sứ mệnh vì nền nông nghiệp, vì nông dân, nông thôn Việt Nam luôn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt hành trình phát triển, Agribank luôn đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp trên khắp mọi miền Tổ quốc, đảm bảo cung ứng nguồn vốn, dịch vụ phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, ghi dấu ấn đậm nét trong từng giai đoạn phát triển: thí điểm cho vay tới hộ nông dân, thành lập tổ liên danh vay vốn, ngân hàng lưu động, đề xuất sáng kiến thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo, tiền thân của ngân hàng chính sách xã hội ngày nay, đầu tư phát triển nông nghiệp sạch, chuỗi liên kết, nông nghiệp công nghệ cao...

Agribank đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

Agribank vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam. Ảnh: Agribank

Sau 35 năm xây dựng và trưởng thành, Agribank trở thành một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam. Hoạt động Agribank đạt được sự tăng trưởng ổn định cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng và hiệu quả với tổng tài sản đạt trên 1,89 triệu tỷ đồng; nguồn vốn đạt trên 1,71 triệu tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 1,44 triệu tỷ đồng, trong đó luôn dành 65 - 70% dư nợ đầu tư “Tam nông”.

Nguồn vốn Agribank chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thị phần tín dụng đầu tư nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam. Agribank luôn phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu thực thi nghiêm túc, có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về “Tam nông”, về tiền tệ, ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội, phát triển nông nghiệp, “trụ đỡ” nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Cùng đó, Agribank tiên phong, trách nhiệm, thực hiện hiệu quả 7 chính sách tín dụng, đóng góp vào kết quả của Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Agribank phát triển và cung ứng nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích, hiện đại, đa dạng kênh dẫn vốn, dịch vụ ngân hàng đến người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Ngân hàng đi đầu trong công tác hỗ trợ an sinh xã hội

Bên cạnh hoạt động kinh doanh, Agribank còn rất quan tâm đến công tác hỗ trợ an sinh xã hội với nhiều dự án, chương trình tài trợ tổng thể và dài hạn trên khắp cả nước. Hàng năm, Agribank đều dành khoảng 400 - 500 tỷ đồng để ủng hộ xây dựng trường học, trạm y tế, nhà tình nghĩa, khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống dịch bệnh Covid-19. Agribank đã thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi lãi suất vay vốn đối với hơn 3,6 triệu khách hàng; tổng số lãi, phí miễn giảm cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Cán bộ, người lao động toàn hệ thống phát huy tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, nhiệt thành hưởng ứng các hoạt động ý nghĩa “Vì tương lai xanh”, “Vì một Việt Nam xanh”...

Agribank đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất
Agribank đã khen thưởng cho 5 đơn vị tiêu biểu và 16 đơn vị thành tích có xuất sắc giai đoạn 2018-2022. Ảnh: Agribank

Ghi nhận những đóng góp quan trọng của Agribank đối với sự nghiệp phát triển “Tam nông” và công cuộc xây dựng đất nước, Đảng, Nhà nước và ngành Ngân hàng trao tặng Agribank nhiều phần thưởng cao quý như: Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2003); Huân chương Độc lập hạng Nhì (2008), Huân chương Lao động hạng Nhất (2018, 2023), Cờ thi đua, bằng khen; các tổ chức uy tín trong nước, quốc tế đánh giá cao, vinh danh Agribank là thương hiệu quốc gia, 6 năm liên tiếp đứng trong top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam; 6 năm liên tiếp có tên trong top 10 doanh nghiệp có đóng góp lớn nhất cho ngân sách nhà nước; xếp hạng tín nhiệm ở mức Ba2, tương đương mức tín nhiệm quốc gia; ngân hàng vì cộng đồng.

Tiếp tục ghi nhận những đóng góp quan trọng của Agribank trong quá trình 35 năm phát triển, Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam đã tặng thưởng Agribank Huân chương Lao động hạng Nhất. Thay mặt Đảng và Nhà nước, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân gắn Huân chương Lao động hạng Nhất lên lá cờ truyền thống của Agribank.

Phát biểu chúc mừng Agribank tại sự kiện, Thống đốc NHNN Việt Nam Nguyễn Thị Hồng khẳng định: Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, đến nay, Agribank đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu về quy mô hoạt động, có hệ thống mạng lưới rộng lớn nhất hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam và có điểm giao dịch đến tận cấp huyện, xã của cả nước; năng lực tài chính, quản trị, điều hành không ngừng được nâng cao; kết quả hoạt động kinh doanh và chất lượng dịch vụ phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng được cải thiện; thương hiệu, hình ảnh, uy tín của Agribank ngày càng được khẳng định cả trong và ngoài nước.

Sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn và nặng nề, khó khăn, phức tạp hơn, trong đó lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn tiếp tục là lĩnh vực được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương đặc biệt quan tâm, khuyến khích đầu tư, phát triển. Ngày 16/6/2022, Ban Chấp hành TW Đảng Khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Để góp phần cùng hệ thống chính trị hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông nghiệp, nông thôn và cùng toàn ngành ngân hàng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, thống đốc NHNN mong muốn Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ, người lao động Agribank nỗ lực phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao và đưa Agribank tiếp tục phát triển mạnh mẽ, an toàn, hiệu quả, bền vững trong thời gian tới.

Chủ tịch HĐTV Agribank Phạm Đức Ấn cho rằng, đây là nguồn động viên to lớn đối với tập thể cán bộ lãnh đạo, người lao động để nỗ lực quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, biến thách thức thành cơ hội, để tiếp tục quá trình dựng xây Agribank phát triển vững mạnh.

Chào mừng 35 năm Ngày thành lập, Agribank đã triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa tri ân sự đóng góp to lớn của các thế hệ cán bộ lãnh đạo, người lao động qua các thời kỳ đối với quá trình 35 năm xây dựng và phát triển của Agribank; Hội nghị tri ân khách hàng, đối tác; Hội nghị Tuyên dương Nữ quản lý tiêu biểu, Cán bộ nữ có thành tích xuất sắc; Liên hoan thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, các hoạt động về nguồn, các công trình an sinh xã hội gắn biển Agribank, Giải chạy “Vì tương lai xanh”; chỉnh trang Phòng truyền thống và triển khai Phòng truyền thống số; các hội thi, cuộc thi gắn kết nội bộ trên toàn hệ thống: Hội thi cán bộ tín dụng giỏi Agribank năm 2023, Cuộc thi viết “Agribank trong tôi”, Cuộc thi ảnh “Agribank 35 năm - Sứ mệnh tự hào”, Cuộc thi sáng tác clip “Tự hào 35 năm Agribank”. Quá trình hình thành, phát triển Agribank được tái hiện đậm nét qua bộ phim tư liệu “Vì sự nghiệp Tam nông”; phóng sự “Nông nghiệp Việt Nam - Khát vọng phát triển”, Chương trình Tự hào giai điệu Việt Nam với chủ đề “Khát vọng xanh” (phát sóng trên VTV1); Tổng hợp, phổ biến các ca khúc viết về Agribank; triển khai nhiều hoạt động vì cộng đồng
Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30