Agribank thực hiện 14 lần giảm lãi suất huy động, 7 lần giảm lãi suất cho vay trong 6 tháng

(TBTCO) - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) vừa tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động kinh doanh 6 tháng đầu năm. Trong 6 tháng đầu năm, Agribank đã triển khai 14 lần giảm lãi suất huy động, 7 lần giảm lãi suất cho vay. 6 tháng cuối năm 2023, Agribank tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, hỗ trợ hiệu quả người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, đồng hành cùng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước thực hiện các chương trình khôi phục và phát triển kinh tế xã hội.
aa

Triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi cho khách hàng

Theo đánh giá của ông Phạm Toàn Vượng - thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc Agribank, trong 6 tháng đầu năm 2023, tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp theo hướng khó khăn, thách thức gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng phục hồi và tăng trưởng kinh tế toàn cầu, kinh tế trong nước vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Từ cuối năm 2022, trên cơ sở nhận định năm 2023 sẽ là năm nhiều khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế và hoạt động ngân hàng, bám sát định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và diễn biến thị trường, Agribank đã chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp kinh doanh, tuân thủ nghiêm túc kỷ cương, kỷ luật thị trường và điều hành của NHNN; chủ động tiết giảm chi phí hoạt động, giảm lãi suất huy động để có điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng; tiếp tục triển khai thiết thực, có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp khắc phục khó khăn, khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh.

Ngày 24/6/2023, Quốc hội thông qua nghị quyết chấp thuận chủ trương đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho Agribank tương ứng với số lợi nhuận còn lại Agribank thực nộp ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2021 - 2023, tối đa là 17.100 tỷ đồng. Trong đó 6.753 tỷ đồng được thực hiện từ dự toán chi ngân sách trung ương năm 2023 đã được Quốc hội phê duyệt; phần còn lại 10.347 tỷ đồng được bố trí từ NSNN và thực hiện chuyển cấp trong năm 2024.

Đến 30/6/2023, tổng tài sản Agribank đạt trên 1,9 triệu tỷ đồng; nguồn vốn đạt trên 1,75 triệu tỷ đồng; dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 1,46 triệu tỷ đồng; các tỷ lệ an toàn hoạt động đảm bảo theo quy định. Agribank luôn làm tròn nhiệm vụ chính trị, vai trò của ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, giữ vững vai trò chủ lực trong đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, với tỷ trọng đầu tư cho khu vực “Tam nông” chiếm khoảng 65%/tổng dư nợ, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thị phần tín dụng đầu tư nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam.

Agribank thực hiện 14 lần giảm lãi suất huy động, 7 lần giảm lãi suất cho vay trong 6 tháng

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo Agribank trao tặng bằng khen cho cán bộ có thành tích xuất sắc. Ảnh: Agribank

Trong 6 tháng đầu năm Agribank triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ nền kinh tế vượt qua khó khăn, nỗ lực hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả. Agribank đã 7 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng.

Agribank đồng thời tích cực triển khai các chính sách như: chính sách cơ cấu lại nợ theo Thông tư 02/2023/TT-NHNN, đến hết tháng 6 năm 2023, Agribank đã cơ cấu lại nợ cho hơn 2.000 khách hàng; Agribank đã hỗ trợ lãi suất theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP, với doanh số cho vay là 10.813 tỷ đồng, dư nợ 4.973 tỷ đồng, số tiền hỗ trợ lãi suất là 57,4 tỷ đồng.

Cùng đó, Agribank đã triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi cho khách hàng như: chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng doanh nghiệp với quy mô lên đến 100.000 tỷ đồng và 500 triệu USD; chương trình cho vay tiêu dùng ưu đãi đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước với tổng nguồn vốn cho vay lên đến 15.000 tỷ đồng…

Với mục tiêu không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh, Agribank phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ, nhất là các sản phẩm ngân hàng hiện đại. Agribank tiếp tục tăng cường hợp tác với các công ty fintech, trung gian thanh toán, đối tác để phát triển hệ sinh thái công nghệ số cung cấp cho khách hàng các sản phẩm, dịch vụ đa dạng với trải nghiệm liền mạch, xuyên suốt, an toàn, tiện lợi với chi phí thấp.

Agribank mở rộng và đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán; gia tăng tiện ích, sản phẩm cho chủ thẻ của Agribank, đặc biệt là sản phẩm thẻ tín dụng nội địa Lộc Việt; phát triển sản phẩm dịch vụ liên kết, mở rộng kết nối, ký kết thỏa thuận hợp tác với các tập đoàn, tổng công ty, các trường đại học...

Ủng hộ 215 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội

Bên cạnh hoạt động kinh doanh, Agribank luôn chủ động và tích cực với các hoạt động an sinh xã hội, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, xây nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, trạm y tế, đường giao thông nông thôn... Cán bộ, người lao động Agribank trên toàn hệ thống tích cực đóng góp 1 ngày lương ủng hộ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, Quỹ Vì người nghèo, Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam..., với mong muốn phát huy tinh thần sẻ chia, tiếp nối truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Tương thân, tương ái”, những giá trị nhân văn của dân tộc.

Theo đó, trong 6 tháng đầu năm 2023, Agribank đã ủng hộ 215 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội tại khắp các địa phương trên cả nước, trong đó, tính riêng kinh phí dành cho hoạt động xây nhà tình nghĩa, nhà cho người nghèo, nhà đại đoàn kết là 56 tỷ đồng, kinh phí dành cho các hoạt động giáo dục là 69 tỷ đồng, lĩnh vực y tế gần 55 tỷ đồng.

Agribank thực hiện 14 lần giảm lãi suất huy động, 7 lần giảm lãi suất cho vay trong 6 tháng
Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo Agribank trao tặng bằng khen cho cán bộ có thành tích xuất sắc. Ảnh: Agribank

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, ông Đào Minh Tú - Phó Bí thư Ban Cán sự Đảng, Phó Thống đốc thường trực NHNN, ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương tinh thần trách nhiệm, nỗ lực của Agribank tiếp tục khẳng định được vị trí vai trò của ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước trong việc chấp hành chủ trương chính sách của Chính phủ, NHNN.

Với những kết quả đạt được, cùng nỗ lực quyết tâm triển khai quyết liệt các giải pháp, Phó Thống đốc NHNN tin rằng, Agribank tiếp tục đi đầu, giữ vững vị trí vai trò chủ lực của ngân hàng thương mại lớn với 100% vốn nhà nước, đóng góp tích cực đối với hệ thống ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung.

Agribank đã giảm 14 lần lãi suất huy động, 7 lần giảm lãi suất cho vay và chú trọng tăng khả năng tiếp cận vốn cho khách hàng. Thu dịch vụ duy trì ổn định; điều hòa vốn luân chuyển vốn trong hệ thống nhịp nhàng, nhanh nhạy vừa giảm chi phí vừa tạo điều kiện cho các chi nhánh có nguồn vốn cho vay kịp thời…

Tại hội nghị, ban lãnh đạo Agribank đã dành thời lượng để các đại biểu trình bày tham luận, tham gia thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị, giải đáp vướng mắc của các đơn vị trong triển khai hoạt động kinh doanh.

Kết luận hội nghị, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank Phạm Đức Ấn, đánh giá cao tinh thần chủ động, nỗ lực, trách nhiệm, vượt qua khó khăn của các đơn vị, cán bộ, người lao động toàn hệ thống. Đồng thời, ông nhấn mạnh, toàn hệ thống tiếp tục tập trung nguồn lực để khắc phục khó khăn, triển khai quyết liệt những nhóm giải pháp trọng tâm để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2023.

Trong 6 tháng cuối năm 2023, toàn hệ thống cần tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, hỗ trợ hiệu quả người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, đồng hành cùng Chính phủ, NHNN thực hiện các chương trình khôi phục và phát triển kinh tế xã hội.

Agribank tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, tình hình cân đối vốn, chủ động dự báo để điều hành linh hoạt lãi suất, chi phí điều vốn nội bộ..., nhằm đảm bảo cân đối, tăng trưởng nguồn vốn phù hợp với tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả.

Trong công tác tín dụng, Agribank tiếp tục chủ động, linh hoạt bám sát diễn biến thị trường, tập trung tăng trưởng tín dụng vào các ngành, lĩnh vực có dấu hiệu phục hồi tốt, giữ vững thị phần... Agribank tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng, sản phẩm hiện có; tập trung xây dựng, triển khai kịp thời các chương trình, sản phẩm tín dụng mới có tính ổn định, kế thừa, phù hợp với từng loại hình, nhu cẩu sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp tại từng địa bàn nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hiệu quả…

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

(TBTCO) - Bước vào độ tuổi 40, khi cha mẹ ngày một lớn tuổi, con cái bước vào những năm học tập quan trọng và bản thân cũng bắt đầu nghĩ đến tuổi nghỉ hưu, nhiều người nhận ra mình đang phải chuẩn bị cho tương lai của cả ba thế hệ. Điều khiến họ trăn trở không chỉ là những khoản chi hôm nay, mà là làm sao để những kế hoạch đã dành nhiều năm vun đắp không bị dang dở giữa chừng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 14,150 14,350
Nguyên Liệu 99.9 14,100 14,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,880 15,130
NL 99.90 13,850
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18044 18318 18897
CAD 18254 18530 19146
CHF 32569 32953 33599
CNY 0 3854 3947
EUR 29890 30112 31196
GBP 34495 34887 35825
HKD 0 3228 3431
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14986 15577
SGD 19972 20254 20826
THB 723 786 840
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26433
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,113 26,113 26,433
USD(1-2-5) 25,069 - -
USD(10-20) 25,069 - -
EUR 30,052 30,076 31,439
JPY 159.88 160.17 169.44
GBP 34,696 34,790 35,916
AUD 18,246 18,312 18,965
CAD 18,460 18,519 19,154
CHF 32,846 32,948 33,831
SGD 20,118 20,181 20,932
CNY - 3,825 3,961
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 771.3 780.83 834.28
NZD 14,990 15,129 15,540
SEK - 2,766 2,857
DKK - 4,021 4,153
NOK - 2,729 2,822
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,051.24 - 6,816.75
TWD 753.53 - 910.7
SAR - 6,900.62 7,251.62
KWD - 83,531 88,666
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,093 26,113 26,433
EUR 29,988 30,108 31,297
GBP 34,704 34,843 35,862
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 32,631 32,762 33,682
JPY 159.89 160.53 168.33
AUD 18,247 18,320 18,912
SGD 20,169 20,250 20,836
THB 789 792 827
CAD 18,458 18,532 19,095
NZD 15,092 15,629
KRW 16.68 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26147 26147 26433
AUD 18233 18333 19258
CAD 18447 18547 19558
CHF 32846 32876 34455
CNY 3835 3860 3995.1
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30088 30118 31840
GBP 34810 34860 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.79 161.29 171.82
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20135 20265 20993
THB 0 752.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15250000
SBJ 13500000 13500000 15250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,433
USD20 26,146 26,196 26,433
USD1 23,917 26,196 26,433
AUD 18,269 18,369 19,481
EUR 30,250 30,250 31,656
CAD 18,396 18,496 19,802
SGD 20,223 20,373 20,936
JPY 161.14 162.64 167.21
GBP 34,711 35,061 36,149
XAU 14,978,000 0 15,182,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80