Agribank - Tiên phong lan tỏa văn hóa học tập số

(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, Agribank không chỉ khẳng định vai trò trụ cột trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, chủ lực trong đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; mà còn nổi bật là đơn vị tiên phong xây dựng và lan tỏa văn hóa học tập số - nền tảng cốt lõi trong chiến lược phát triển bền vững.
aa

Tư duy số - Hành động số

Xác định văn hóa học tập số là yếu tố then chốt để chuyển đổi số thành công, Agribank đã sớm ban hành Kế hoạch chuyển đổi số đến năm 2030. Học tập số không chỉ là việc ứng dụng công nghệ trong đào tạo, mà là sự chuyển biến toàn diện về tư duy: chủ động học, học suốt đời, gắn học với thực hành và sáng tạo.

Agribank - Tiên phong lan tỏa văn hóa học tập số

Đại diện Ngân hàng Nhà nước ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện với 5 Ngân hàng thương mại (Tổng Giám đốc Agribank hàng đầu, ngoài cùng bên phải), trong đó có nội dung hợp tác xây dựng hạ tầng công nghệ - dữ liệu số tiên tiến, hiện đại.

Từ năm 2022 đến quý I/2025, Agribank đã tổ chức hơn 385.000 lượt đào tạo, trong đó có tới 175.000 lượt học qua hệ thống E-learning.

Năm 2023, Agribank đã tổ chức 5 chương trình đào tạo, trong đó có nội dung liên quan đến chuyển đổi số dành cho lãnh đạo đơn vị, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. Năm 2024, số lượng chương trình là 6 và đang tiếp tục triển khai ngay từ những tháng đầu năm 2025. Agribank là một trong những ngân hàng đầu tiên đào tạo kiến thức, kỹ năng trong thời đại số và ứng dụng AI trong hoạt động ngân hàng, xây dựng, thiết kế bài giảng điện tử, phân tích và xử lý dữ liệu….

Hợp tác toàn cầu, học tập không giới hạn

Bước tiến nổi bật trong chiến lược đào tạo số của Agribank là hợp tác chiến lược với nền tảng Udemy Business, mang đến hơn 30.000 khóa học quốc tế về tài chính - ngân hàng, kỹ năng số, kỹ năng mềm, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tư duy số, agrile..., giúp cán bộ, người lao động có thể học mọi lúc, mọi nơi theo nhu cầu cá nhân.

Năm 2024, Agribank đã tổ chức hơn 220 lớp học trong 43 chương trình đào tạo kết hợp; tổ chức 9 đợt thi trực tuyến với hơn 75.000 lượt cán bộ tham gia - tăng trưởng đột phá hơn 1.000% so với năm trước đó. Ngoài ra, Agribank cũng tổ chức thành công Hội thi Cán bộ tín dụng giỏi, Hội thi Giao dịch viên giỏi, Hội thi Tài năng - Thanh lịch nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người lao động, lan tỏa và truyền thông văn hóa học tập trong toàn hệ thống và toàn ngành ngân hàng.

Học đi đôi với hành - Gắn đào tạo với chuyển đổi số thực tiễn

Tính đến quý I/2025, 95% giao dịch được thực hiện qua kênh số, 40% doanh thu dịch vụ đến từ kênh số, 60% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường số, 47% khách hàng sử dụng sản phẩm số của Agribank và 742 sáng kiến được công nhận trong hệ thống Agribank, trong đó 25% thuộc lĩnh vực chuyển đổi số... Những con số ấn tượng này minh chứng cho hiệu quả của đào tạo số trong việc nâng cao năng lực cán bộ, giúp họ làm chủ công nghệ và dẫn dắt cải tiến.

Hưởng ứng chủ trương “Bình dân học vụ số” - Chủ động, quyết liệt, bài bản

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, Kế hoạch 77-KH/ĐU ngày 28/02/2025 của Đảng ủy Agribank và Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Ban Chấp hành Trung ương về việc triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, Agribank là một trong những đơn vị đi đầu trong việc cụ thể hóa chủ trương này bằng các hành động thiết thực:

• Xây dựng Kế hoạch hành động riêng, gắn đào tạo số với chiến lược phát triển nhân sự và vận hành ngân hàng số.

• Phát động phong trào học tập số sâu rộng trong toàn hệ thống như chương trình về chuyển đổi số: Nhận thức chuyển đổi số cho cán bộ, nâng cao kiến thức về xu hướng, công nghệ trong lĩnh vực chuyển đổi số; An toàn thông tin cho người dùng; Phân tích, xử lý dữ liệu…, ứng dụng AI trong thiết kế bài giảng điện tử; trang bị kiến thức, kỹ năng trong thời đại số và ứng dụng AI trong hoạt động ngân hàng

• Phổ cập kỹ năng số cho cộng đồng nông thôn, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa - nơi Agribank triển khai gần 3.300 máy ATM, 25.000 máy POS và 68 điểm giao dịch lưu động.

• Phát động các phong trào thi đua, tổ chức hội thảo, truyền thông nội bộ để lan tỏa tinh thần học suốt đời, khơi dậy niềm tin vào sức mạnh của tri thức số.

Phong trào không dừng ở nội bộ ngân hàng, mà đã và đang lan tỏa đến hàng triệu người dân, đúng với tinh thần “học để đổi đời số”, góp phần nâng cao dân trí số, thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển nông thôn mới.

Định hướng tương lai: Chủ động - Đổi mới

Trong thời gian tới, Agribank tập trung hoàn thiện chiến lược đào tạo số, xây dựng đội ngũ “Đại sứ số” và “Hạt nhân số”, nâng cấp hạ tầng công nghệ, phát triển hệ thống đánh giá hiệu quả đào tạo và tăng cường hợp tác quốc tế. Hành trình lan tỏa văn hóa học tập số tại Agribank là minh chứng cho tư duy chiến lược, bản lĩnh cải cách và tinh thần tiên phong, đồng thời góp phần nâng cao nội lực của ngân hàng, truyền cảm hứng, đưa tri thức số đến với cộng đồng.

Mục tiêu lớn nhất của phong trào là hình thành văn hóa “học suốt đời”, đưa mỗi cán bộ Agribank trở thành mắt xích lan tỏa tri thức số đến khách hàng, cộng đồng, đặc biệt tại khu vực nông thôn, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số quốc gia. Với sự quyết tâm từ Ban lãnh đạo Agribank, sự đồng lòng từ người lao động và sự chỉ đạo sát sao từ Ngân hàng Nhà nước, phong trào “Bình dân học vụ số” sẽ tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ trong toàn hệ thống Agribank./.

Trọng Tú

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80