Áp lực nợ xấu gia tăng, nhiều ngân hàng đối mặt rủi ro mất vốn lớn

(TBTCO) - Quy mô nợ xấu nhóm 5 (nợ xấu có khả năng mất vốn) tại các ngân hàng niêm yết tăng 43%, trong đó, có nhiều ngân hàng tăng vọt gấp 2 - 3 lần. Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu giải pháp xử lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu phát sinh theo chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ.
aa
Nợ xấu gia tăng, “bộ đệm” mỏng về đáy 6 năm Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng
Sửa Luật Các tổ chức tín dụng, luật hoá Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Công văn 1892/VPCP-KTTH truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về thông tin, báo chí và dư luận liên quan đến công tác chỉ đạo điều hành. Tại công văn này, Thủ tướng chỉ đạo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) theo chức năng, nhiệm vụ được giao nghiên cứu thông tin báo chí về việc nợ nhóm 5 của nhiều ngân hàng gia tăng. Từ đó, xem xét, thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, kiểm soát và hạn chế nợ xấu phát sinh, nâng cao chất lượng tín dụng theo quy định pháp luật, bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Nợ xấu nhóm 5 tăng vọt

Cuối năm 2024, nhóm các ngân hàng quốc doanh niêm yết trên sàn có tổng quy mô nợ xấu nhóm 5 đạt 43,4 nghìn tỷ đồng, tăng 44% và chiếm tỷ trọng 33,2% tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết.

Nợ xấu mất vốn tăng gấp 2 - 3 lần cùng kỳ

Thống kê của TBTCVN cho thấy, tổng nợ xấu nhóm 5 (nợ xấu có khả năng mất vốn) tại 27 ngân hàng thương mại niêm yết cuối năm 2024 đạt trên 130 nghìn tỷ đồng, tăng gần 43% so với đầu năm. Đáng chú ý, một số ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu nhóm 5 tăng gấp 2 - 3 lần so với năm trước, phản ánh áp lực xử lý nợ xấu ngày càng lớn.

Trong đó, một ngân hàng big 4 có số dư nợ xấu nhóm 5 cao nhất hệ thống, lên tới gần 20 nghìn tỷ đồng, tăng mạnh 52% cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 68% tổng quy mô nợ xấu (nhóm 3 - 5).

Tuy nhiên, đây là nhà băng có quy mô dư nợ lớn nhất Việt Nam, nên tỷ lệ nợ xấu chỉ chiếm 1,41% trong tổng dư nợ cho vay khách hàng và vẫn nằm trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất.

Đáng chú ý, một ngân hàng nhỏ nhưng có quy mô nợ xấu đứng trong top đầu toàn ngành, lên tới gần 14.000 tỷ đồng, trong đó, nợ xấu có khả năng mất vốn lên tới trên 13.000 tỷ đồng, chiếm áp đảo 95% quy mô nợ xấu.

Hiện nhà băng này đang thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2023-2025, định hướng 2030 đã được cấp thẩm quyền phê duyệt; đồng thời, đang đẩy mạnh triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh để nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu.

Thủ tướng yêu cầu Thống đốc NHNN nghiên cứu tình trạng nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Hơn nữa, một số ngân hàng đã giảm tỷ lệ trích lập dự phòng trong năm 2024 và thấp hơn nhiều năm trước, làm suy yếu bộ đệm rủi ro. Dù tăng trưởng tín dụng mạnh, hệ thống ngân hàng vẫn đối mặt với thách thức lớn trong việc kiểm soát chất lượng tài sản và duy trì an toàn vốn.

Tạo cơ chế đặc thù cho xử lý nợ xấu

Thống kê của FiinRatings cũng cho thấy, từ năm 2022 đến 3 quý đầu năm 2024, tốc độ tăng trưởng cho vay trong ngành ngân hàng thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng nợ xấu (bao gồm cả nợ nhóm 3-5 và nợ xấu chuyển giao cho VAMC - Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam).

FiinRatings dự báo trong năm 2025, các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng nhỏ và một số ngân hàng tư nhân lớn có tỷ lệ nợ xấu và nợ có vấn đề, cũng như tỷ lệ nợ cơ cấu theo Thông tư 02/2023/TT-NHNN cao hơn mức trung bình ngành, sẽ tiếp tục phải đối mặt với áp lực về chất lượng tài sản.

Thủ tướng yêu cầu Thống đốc NHNN nghiên cứu tình trạng nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh
Áp lực nợ xấu gia tăng, nhiều ngân hàng đối mặt rủi ro mất vốn lớn. Ảnh minh hoạ.

Hiện NHNN đang trình Chính phủ đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng, trong đó, đề xuất luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu. Ba chính sách nổi bật được đề cập trong dự luật đó là: luật hóa quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm; luật hóa quy định về kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi hành án; luật hóa quy định về hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự và bổ sung quy định về hoàn trả tài sản bảo đảm là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Theo ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings, Nghị quyết 42 được ban hành nhằm tạo cơ chế đặc thù cho việc xử lý nợ xấu, giúp các ngân hàng giải quyết nhanh chóng các khoản nợ không hiệu quả.

Luật hóa Nghị quyết 42 nhưng phải đảm bảo cân bằng lợi ích

"Việc luật hóa Nghị quyết 42 sẽ giúp tạo hành lang pháp lý ổn định, cung cấp cơ sở pháp lý rõ ràng và lâu dài cho việc xử lý nợ xấu, giúp các ngân hàng tăng cường hiệu quả xử lý nợ xấu và nhà đầu tư yên tâm hơn trong hoạt động. Tuy nhiên, việc luật hóa cần được thực hiện cẩn trọng, đảm bảo cân bằng giữa quyền lợi của ngân hàng và khách hàng, đồng thời tránh tạo ra các kẽ hở pháp lý có thể bị lợi dụng" - chuyên gia FiinRatings lưu ý.

Cũng theo NHNN, việc thiếu cơ chế rõ ràng đã khiến quá trình xử lý tài sản bảo đảm kéo dài, làm gia tăng rủi ro tín dụng và ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của nền kinh tế.

Việc luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, khơi thông dòng vốn tín dụng và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.

Theo đó, NHNN kiến nghị bổ sung Điều 198a vào Luật Các tổ chức tín dụng, cho phép ngân hàng và các tổ chức xử lý nợ có quyền thu giữ tài sản bảo đảm trong trường hợp hợp đồng bảo đảm có điều khoản cho phép.

Tuy nhiên, quy trình này phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Đồng thời, NHNN cũng đề xuất hạn chế lạm dụng quyền thu giữ, chỉ cho phép thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Shinhan Bank lãi trước thuế 2.589,8 tỷ đồng, với nhiều nguồn thu cốt lõi tăng trưởng; dư nợ cho vay khách hàng tăng 6,2%, đạt 167.638 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn được duy trì tích cực với CAR ở mức 20,7% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,55%.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,500
Hà Nội - PNJ 143,200 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,500
Miền Tây - PNJ 143,200 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 10/09/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18151 18426 19005
CAD 18258 18534 19155
CHF 31354 31733 32377
CNY 0 3819 3915
EUR 29492 29713 30794
GBP 34251 34642 35590
HKD 0 3172 3375
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14807 15397
SGD 19940 20222 20794
THB 702 765 819
USD (1,2) 25640 0 0
USD (5,10,20) 25678 0 0
USD (50,100) 25706 25720 26090
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,578 29,602 31,008
JPY 164.42 164.72 174.72
GBP 34,524 34,617 35,811
AUD 18,408 18,475 19,176
CAD 18,470 18,529 19,214
CHF 31,671 31,769 32,702
SGD 20,081 20,143 20,932
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,238 3,248 3,384
KRW 17.88 18.65 20.28
THB 752.49 761.78 815.7
NZD 14,859 14,997 15,446
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,967 4,108
NOK - 2,769 2,867
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 743.58 - 900.93
SAR - 6,783.81 7,146.54
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,641 29,760 30,953
GBP 34,549 34,688 35,720
HKD 3,244 3,257 3,373
CHF 31,546 31,673 32,605
JPY 164.90 165.56 173.54
AUD 18,410 18,484 19,081
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 769 772 809
CAD 18,505 18,579 19,175
NZD 14,970 15,513
KRW 18.52 20.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25705 25705 26095
AUD 18332 18432 19357
CAD 18440 18540 19551
CHF 31563 31593 33183
CNY 3801.1 3826.1 3961.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29661 29691 31417
GBP 34553 34603 36363
HKD 0 3330 0
JPY 165.1 165.6 176.12
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14907 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20088 20218 20949
THB 0 731.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Cập nhật: 10/09/2026 07:30
Ngân hàng