Bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội

(TBTCVN) - Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều diễn biến khó lường, bất ổn do đại dịch covid 19, thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng và ngày càng thể hiện được vai trò, vị trí quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội.
aa

Infographic: T.L

Infographic: T.L

Đó là nhận định của Thứ trưởng Bộ Tài chính Huỳnh Quang Hải, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của thị trường bảo hiểm Việt Nam và chỉ ra những định hướng cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới. TBTCVN trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của Thứ trưởng Bô Tài chính Huỳnh Quang Hải.

Bảo hiểm ngày càng khẳng định vai trò quan trọng

Một là, quy mô thị trường bảo hiểm ngày càng lớn, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

TT Huỳnh Quang Hải
Thứ trưởng Huỳnh Quang Hải
Tính đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 73 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và 01 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ nước ngoài; với mạng lưới phục vụ khách hàng trên toàn quốc, với gần 900 chi nhánh, văn phòng đại diện, hơn 1 triệu đại lý.

Các chỉ tiêu phát triển của thị trường bảo hiểm như: tổng tài sản, tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế, tổng dự phòng nghiệp vụ, tổng doanh thu phí bảo hiểm, tổng vốn chủ sở hữu của các giai đoạn 2016 - 2020 và 6 tháng đầu năm 2021 tăng từ 19 - 25%. Doanh thu bảo hiểm tương đương 3,5% GDP.

Sản phẩm bảo hiểm được cung cấp tương đối đa dạng, đáp ứng cơ bản nhu cầu bảo hiểm của người dân. Chất lượng dịch vụ bảo hiểm được tăng cường đáng kể.

Hai là, góp phần bổ trợ cho các chính sách an sinh xã hội.

Đến cuối năm 2020, thị trường bảo hiểm đã tạo lập công ăn việc làm cho gần 1.000.000 lao động với thu nhập ổn định, được đào tạo về tài chính, bảo hiểm. Theo thống kê của các doanh nghiệp bảo hiểm, tổng giá trị được bảo hiểm là 11,7 triệu tỷ đồng. Những người được bảo hiểm đã có thể tự thu xếp, bảo vệ về mặt tài chính, được bảo hiểm chi trả bồi thường khi không may xảy ra tai nạn, ốm đau, mà không cần tới sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước.

Ba là, góp phần bảo vệ tài chính cho các nhà đầu tư.

Đến nay, thị trường bảo hiểm đã và đang bảo vệ cho hầu hết tất cả các loại hình tài sản bao gồm công trình xây dựng, tài sản của mọi thành phần kinh tế từ Nhà nước, tư nhân đến đầu tư nước ngoài; mọi ngành kinh tế từ công nghiệp, nông nghiệp đến các ngành dịch vụ; với đa dạng loại hình bảo hiểm từ bảo hiểm tài sản thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hải cho đến bảo hiểm bảo lãnh, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, gián đoạn kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm thủy sản...

Đến năm 2020, các doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm lên đến 340.000 tỷ đồng. Có thể nói, bảo hiểm đã thể hiện vai trò là một công cụ, giải pháp tài chính hữu hiệu giúp cho các nhà đầu tư yên tâm sản xuất kinh doanh mà không cần sử dụng đến các giải pháp tín dụng và dự phòng tài chính khác.

Bốn là, thúc đẩy hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế.

Về hội nhập kinh tế quốc tế, trong hiệp định tự do hóa thương mại song phương và đa phương, lĩnh vực bảo hiểm luôn cam kết với lộ trình và mức độ mở cửa thị trường cao so với các nước trong ASEAN và châu Á, tạo điều kiện thúc đẩy hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào các thị trường lớn có mức độ bảo hộ cao như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản... Đồng thời, thu hút thêm các nhà đầu tư lớn từ các lĩnh vực khác nhau thuộc các nước thành viên, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Năm là, góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ.

Trong những năm qua, nhiều chính sách bảo hiểm thực hiện các chương trình mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ đã được triển khai và đem lại hiệu quả tích cực. Điển hình như Chương trình bảo hiểm nông nghiệp đã hoàn tất giai đoạn thí điểm và bước đầu triển khai ở các tỉnh thành; Chương trình bảo hiểm tàu cá (theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP) đã góp phần khuyến khích khai thác hải sản xa bờ nhằm hỗ trợ ngư dân bám biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Bên cạnh đó, Chương trình bảo hiểm thiên tai cũng đang được triển khai nghiên cứu xây dựng, sẽ có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, góp phần giảm nhẹ gánh nặng của ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bảo hiểm cũng đóng góp tích cực trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mang tính chất cấp bách, đột xuất của Chính phủ.

Định hướng trong thời gian tới

Trong thời gian tới, dư địa phát triển của bảo hiểm Việt Nam vẫn còn rất tiềm năng. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm các nước trên thế giới và khu vực đã tạo khoảng cách với thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt là khoảng cách giữa hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm so với chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế, là thành viên của Hiệp hội Quốc tế các cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm (IAIS) và các tổ chức quốc tế khác, đây là thách thức không nhỏ.

Theo Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, thị trường bảo hiểm Việt Nam định hướng phát triển với các mục tiêu và giải pháp thực hiện chính như sau:

Mục tiêu đến năm 2025, phát triển toàn diện thị trường bảo hiểm an toàn, bền vững, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân, bảo đảm an sinh xã hội; doanh nghiệp bảo hiểm có năng lực tài chính vững mạnh, năng lực quản trị điều hành đạt chuẩn mực quốc tế, có khả năng cạnh tranh trong nước và khu vực.

Các nhóm giải pháp thực hiện chính gồm:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở pháp lý:

Hoàn thiện, trình Chính phủ trình Quốc hội Luật Kinh doanh bảo hiểm vào năm 2021, đồng thời xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tăng cường tính chủ động và chịu trách nhiệm của các DNBH trong hoạt động kinh doanh, vốn, quản trị rủi ro và quản trị nhân lực,…; hoàn thiện phương thức quản lý nhà nước theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tăng cường công tác hậu kiểm thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, tăng cường kết nối với các cơ quan quản lý, hội nhập, hợp tác quốc tế.

Thứ hai, nâng cao tính minh bạch thông tin:

Yêu cầu các DNBH công khai thông tin đầy đủ, toàn diện và tương ứng một cách kịp thời nhằm giúp cho bên mua bảo hiểm và các tổ chức có liên quan hiểu rõ về cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp, nhằm tăng cường kỷ luật của thị trường, đồng thời giúp mọi tổ chức, cá nhân có liên quan hiểu rõ về DNBH, về các loại rủi ro tác động đến hoạt động của doanh nghiệp và cách thức quản lý rủi ro.

Thứ ba, phát triển và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm:

Đa dạng các kênh phân phối nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng chuyên nghiệp, theo kịp với sự phát triển của cách mạng công nghệ 4.0, phục vụ tốt nhất bên mua bảo hiểm, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận bảo hiểm một cách dễ dàng, chuyên nghiệp nhất.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và hiệu quả công tác thanh tra kiểm tra, giám sát, xử phạt hành chính:

Từng bước chuyển đổi mô hình quản lý nhà nước về bảo hiểm từ mô hình quản lý tài chính là Biên khả năng thanh toán 1 sang mô hình vốn trên cơ sở rủi ro để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm, nâng cao tính chủ động và chịu trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt coi trọng chất lượng và sự an toàn của thị trường, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để hình thành một hệ thống thị trường bảo hiểm đồng bộ và thống nhất trong tổng thể thị trường tài chính.

Thứ năm, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Nghiên cứu và hướng tới áp dụng khung tiêu chuẩn năng lực phù hợp với thực tiễn và sự phát triển của thị trường; ban hành các quy định chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực thông qua hệ thống chứng chỉ chuyên môn phù hợp với khung tiêu chuẩn năng lực; tăng cường công tác đào tạo cán bộ của ngành bảo hiểm.

Ngoài các nhóm giải pháp thực hiện nêu trên, cơ quan quản lý bảo hiểm cần tập trung tăng cường vai trò của các hội nghề nghiệp; tăng cường kết nối liên thông giữa bảo hiểm y tế xã hội với bảo hiểm y tế thương mại; đẩy mạnh tuyên truyền về bảo hiểm; thiết lập hệ thống công nghệ thông tin, hạ tầng kỹ thuật; xây dựng cơ sở dữ liệu cho thị trường bảo hiểm.

Với những kết quả và định hướng như trên, thị trường bảo hiểm Việt Nam chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội để tiếp tục phát triển và khẳng định vai trò của mình đối với nền kinh tế - xã hội.

(Nguồn: Đặc san Thị trường Bảo hiểm Việt Nam 2021)

Huỳnh Quang Hải - Thứ trưởng Bộ Tài chính

Huỳnh Quang Hải - Thứ trưởng Bộ Tài chính

Đọc thêm

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 17,380
Kim TT/AVPL 17,090 17,390
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 17,380
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 17,340
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 17,290
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 17,270
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 173,800
Hà Nội - PNJ 170,800 173,800
Đà Nẵng - PNJ 170,800 173,800
Miền Tây - PNJ 170,800 173,800
Tây Nguyên - PNJ 170,800 173,800
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 173,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 17,380
Miếng SJC Nghệ An 17,080 17,380
Miếng SJC Thái Bình 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 17,380
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,570 17,270
Trang sức 99.99 16,580 17,280
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 17,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 17,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 1,736
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 1,737
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 170,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 129,238
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 11,719
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 105,141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 100,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 71,923
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cập nhật: 31/03/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80