Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới: Nhìn từ vụ xe ô tô khách bị vùi lấp tại Hà Giang

Vũ Long
(TBTCO) - Ngày 10/3/1988, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 30/HĐBT về chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Sau 4 lần bổ sung, sửa đổi, căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm 2023, ngày 6/9/2023, Chính phủ ban hành Nghị định 67/2023/NĐ-CP (Nghị định 67) về bảo hiểm bắt buộc, trong đó có bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe.
aa

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe và những băn khoăn

Trải qua hơn 36 năm, từ ban đầu chỉ có 1 doanh nghiệp nhà nước khi đó là Bảo Việt triển khai, tới nay cả thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 32 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và hầu hết đều triển khai loại bảo hiểm này.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì đến hết năm 2023, nước ta có khoảng hơn 6,3 triệu ô tô và hơn 74,3 triệu xe máy các loại. Do bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe theo hình thức bắt buộc nên hầu hết chủ xe ô tô đã mua bảo hiểm. Riêng về bảo hiểm xe máy, vì nhiều lý do khác nhau tới nay, số lượng xe tham gia bảo hiểm còn hạn chế.

Theo quy định của Nghị định 67 thì mức trách nhiệm bảo hiểm về người cao nhất, trong trường hợp tử vong là 150 triệu đồng/người/vụ và về tài sản là 100 triệu đồng/vụ. Bộ Tài chính – cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm, đã ban hành cụ thể mức phí bảo hiểm đối với từng loại xe, có căn cứ vào mục đích hoạt động kinh doanh hay không kinh doanh.

Dù Nghị định 67 đã rất chi tiết và đơn giản các thủ tục mua bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm nhưng vẫn có không ít ý kiến của chủ xe cho rằng, cần đơn giản hơn nữa thủ tục bồi thường từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH).

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới: Nhìn từ vụ xe ô tô khách bị vùi lấp tại Hà Giang
Lực lượng cứu hộ, cứu nạn khắc phục sự cố sau tai nạn. Ảnh tư liệu minh họa

Từ phía các DNBH, theo một chuyên gia về bảo hiểm, cũng không phải đã hết khó khăn khi giám định tổn thất, xác định nguyên nhân tai nạn và giải quyết bồi thường thiệt hại cho chủ xe.

Cụ thể như: Thứ nhất là việc xác định nồng độ cồn. DNBH không có thẩm quyền và trang bị như cơ quan công an để có thể đo nồng độ cồn của lái xe khi xảy ra tai nạn, giám định viên tới hiện trường. Việc yêu cầu lái xe tới cơ sở y tế để đo nồng độ cồn không đơn giản và mất thời gian cho cả 2 bên.

Thứ hai là xác định lỗi của các bên khi xe đâm va nhất là trong trường hợp có nhiều xe trong một vụ tai nạn. Trước đây và ngay cả hiện nay, theo quy định của ngành Công an về quy trình giải quyết tai nạn giao thông, thì ngay khi nhận được thông tin tai nạn, cảnh sát giao thông phải tới hiện trường để giải quyết, xác định nguyên nhân tai nạn. Nhưng theo Nghị định 67, hồ sơ bồi thường chỉ cần bản sao các tài liệu liên quan của cơ quan công an trong các vụ tai nạn gây tử vong đối với người thứ ba và hành khách hoặc trường hợp cần xác minh vụ tai nạn có nguyên nhân do lỗi hoàn toàn của người thứ ba, bao gồm: Thông báo kết quả điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn hoặc Thông báo kết luận điều tra giải quyết vụ tai nạn.

Như vậy chỉ trong trường hợp tai nạn chết người hay lỗi hoàn toàn của người thứ ba thì cảnh sát giao thông mới tới hiện trường. Các trường hợp khác dù lái xe có biểu hiện sử dụng rượu bia nhưng tai nạn chỉ gây tổn thất vật chất thì DNBH tự xử lý.

Theo chuyên gia này, với các quy định kể trên DNBH phải tự xoay sở. Điều này dẫn tới không ít ý kiến của cộng đồng mạng, ảnh hưởng tới DNBH khi phải tự điều tra, xem xét các khía cạnh liên quan đến trách nhiệm của chủ xe trong vụ tai nạn. Ngay cả khi có kết luận của bệnh viện về việc trong hơi thở, trong máu của lái xe có nồng độ cồn khi gây tai nạn, có kết luận của công an, DNBH từ chối bồi thường thì việc tranh chấp cũng bất lợi cho DNBH. Có trường hợp cơ quan xét xử vẫn buộc DNBH phải bồi thường, vì theo kết luận của công an lái xe gây tai nạn do thiếu chú ý quan sát chứ không kết luận là lỗi do sử dụng rượu bia.

Trải qua hơn 36 năm, từ ban đầu chỉ có 1 doanh nghiệp nhà nước khi đó là Bảo Việt triển khai, tới nay cả thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 32 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và hầu hết đều triển khai loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.

Mục đích của bảo hiểm bắt buộc là nhằm “bảo vệ lợi ích công cộng, môi trường và an toàn xã hội”. Người bị nạn được bồi thường trong mọi trường hợp, kể cả khi người gây tai nạn cũng bị chết, nên chỉ có hành động của DNBH mới chứng minh được sự cần thiết của loại hình bảo hiểm này và vì sao Nhà nước buộc chủ xe phải mua bảo hiểm.

Nhìn từ vụ tai nạn sạt lở đất tại Hà Giang

Mới đây, vào 4 giờ sáng, ngày 13/7, xe ô tô chở khách 16 chỗ biển kiểm soát 29E-024.89, chở 16 hành khách và xe Innova phía sau, đang lưu thông trên tuyến Hà Giang - Cao Bằng. Khi đi đến km 10+950 thuộc thôn Tả Mò, xã Yên Định, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xe đã gặp phải vụ sạt lở đất đá lớn, với chiều dài khoảng 80 m và khối lượng đất đá ước tính khoảng 1.000 m³. Theo cập nhật mới nhất, vụ sạt lở đã khiến 11 người tử vong và 4 người khác bị thương đang được điều trị tại bệnh viện.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, cán bộ Công ty Bảo hiểm Hàng không Hà Tuyên, thuộc Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không (VNI), đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường. Trong quá trình chờ cơ quan chức năng xác minh, làm rõ đối tượng được bảo hiểm vì tại hiện trường ngoài xe 29E-024.89 thì còn có cả xe ô tô 7 chỗ và xe máy cũng có thiệt hại về người, VNI đã phối hợp với cơ quan chức năng thăm hỏi, động viên tất cả các nạn nhân trong vụ sạt lở nêu trên, bao gồm các nạn nhân bị thương và các gia đình có người tử vong, không phân biệt nạn nhân đã đi trên phương tiện nào, phương tiện có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự hay không.

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới: Nhìn từ vụ xe ô tô khách bị vùi lấp tại Hà Giang
Khắc phục sau tai nạn sạt lở đất. Ảnh tư liệu minh họa

VNI Hà Tuyên đã tạm ứng bồi thường lần 1/hỗ trợ hơn 230 triệu đồng cho gia đình và người thân các nạn nhân trong vụ sạt lở đất và đang cùng chủ xe, gia đình những người bị nạn hoàn tất hồ sơ để trả tiền bảo hiểm trong thời gian sớm nhất.

Có lẽ để bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe ngày càng đi vào cuộc sống, chủ xe tự nguyện mua bảo hiểm, vấn đề chính là thái độ phục vụ của DNBH như trường hợp vụ tai nạn đau thương này, không kể tai nạn lớn hay nhỏ.

Được biết 6 tháng đầu năm 2024, VNI trở thành DNBH trong top đầu về bảo hiểm xe cơ giới tại Việt Nam.
Vũ Long

Đọc thêm

Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

(TBTCO) - Điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam đang đối mặt nhiều "biến số", tác động đến các chỉ tiêu cân đối lớn như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tăng trưởng tín dụng... Nửa cuối năm, bài toán không chỉ là giữ nhịp tăng trưởng, mà còn phải phối hợp linh hoạt các công cụ để giữ ổn định hệ thống.
Định hình hệ thống ngân hàng hiện đại đến năm 2045, phát triển sàn giao dịch nợ, sở giao dịch vàng

Định hình hệ thống ngân hàng hiện đại đến năm 2045, phát triển sàn giao dịch nợ, sở giao dịch vàng

(TBTCO) - Một trong những nội dung trọng tâm của Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam là hướng đến phát triển hệ thống ngân hàng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả dựa trên nền tảng công nghệ số đến năm 2045. Trong đó, Đề án định hướng phát triển Sàn giao dịch nợ quốc gia trên nền tảng số, xây dựng sàn/sở giao dịch vàng, khả năng triển khai đồng tiền kỹ thuật số quốc gia...
Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

(TBTCO) - Theo ông Phan Dũng Khánh - Chuyên gia tư vấn đầu tư độc lập, thị trường vàng chịu tác động từ nhiều yếu tố quốc tế như chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, đồng USD và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ, cùng các yếu tố trong nước như tâm lý nhà đầu tư và quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, xu hướng giá vàng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào diễn biến của thị trường thế giới.
Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm từ 1 - 1,5 triệu đồng/lượng.
Khi quyền lợi bảo hiểm đến đúng lúc

Khi quyền lợi bảo hiểm đến đúng lúc

(TBTCO) - Việc Prudential hoàn tất thẩm định và quyết định chi trả gần 200 triệu đồng cho gia đình một khách hàng gặp nạn trong trận lũ tại tỉnh Lai Châu một lần nữa cho thấy giá trị thiết thực của bảo hiểm nhân thọ khi rủi ro xảy ra. Trên thị trường, nhiều doanh nghiệp cũng đang đẩy nhanh quá trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm, qua đó hỗ trợ khách hàng và gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính, từng bước vượt qua biến cố.
Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tình trạng đánh tráo chip thẻ, yêu cầu minh bạch phí thẻ tín dụng

Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tình trạng đánh tráo chip thẻ, yêu cầu minh bạch phí thẻ tín dụng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán khi xuất hiện nhiều thủ đoạn gian lận mới. Đáng chú ý là tình trạng bóc tách, đánh tráo chip trên thẻ vật lý để làm giả, chiếm đoạt tài sản; một số tổ chức phát hành thẻ chưa công khai, minh bạch các loại phí, lãi suất với thẻ tín dụng.
Hai thủ tục hành chính mới trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

Hai thủ tục hành chính mới trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

(TBTCO) - Tại Quyết định số 1997/QĐ-BTC vừa ban hành, Bộ Tài chính đã công bố 2 thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

(TBTCO) - VietABank lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 826,3 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng đồng đều ở các nguồn thu cốt lõi. Việc mở rộng huy động vốn trong nước và quốc tế tạo dư địa để ngân hàng đẩy mạnh cho vay, đưa dư nợ tiến sát mốc 100.000 tỷ đồng và duy trì chất lượng tài sản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Hà Nội - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Miền Tây - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 ▲50K 14,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 ▲50K 14,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 ▲50K 14,200 ▲50K
NL 99.99 12,950
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,390 ▲50K 14,090 ▲50K
Trang sức 99.99 13,400 ▲50K 14,100 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 29/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17734 18008 18587
CAD 18135 18411 19030
CHF 31453 31832 32479
CNY 0 3849 3942
EUR 29337 29557 30640
GBP 34175 34566 35509
HKD 0 3225 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14897 15487
SGD 19823 20105 20684
THB 700 764 817
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26135 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,525
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,495 29,519 30,926
JPY 156.5 156.78 166.21
GBP 34,380 34,473 35,536
AUD 17,968 18,033 18,714
CAD 18,333 18,392 19,065
CHF 31,788 31,887 32,816
SGD 19,956 20,018 20,809
CNY - 3,814 3,959
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.72 17.44 18.97
THB 749.11 758.36 812.33
NZD 14,898 15,036 15,477
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,676 2,770
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,021.83 - 6,795.68
TWD 731.41 - 885.95
SAR - 6,895.43 7,262.06
KWD - 83,222 88,539
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,125 26,145 26,525
EUR 29,436 29,554 30,746
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,290 3,303 3,421
CHF 31,612 31,739 32,653
JPY 156.83 157.46 165.36
AUD 18,009 18,081 18,677
SGD 20,030 20,110 20,699
THB 765 768 804
CAD 18,344 18,418 18,995
NZD 14,984 15,527
KRW 17.32 19.21
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26500
AUD 17924 18024 18949
CAD 18317 18417 19431
CHF 31709 31739 33321
CNY 3830.4 3855.4 3990.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29539 29569 31294
GBP 34498 34548 36308
HKD 0 3355 0
JPY 157.38 157.88 168.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15018 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19988 20118 20845
THB 0 730.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,550
USD20 26,114 26,214 26,567
USD1 26,064 26,214 26,571
AUD 17,989 18,089 19,202
EUR 29,368 29,468 31,127
CAD 18,286 18,386 19,692
SGD 20,073 20,223 20,788
JPY 157.96 159.46 164.98
GBP 34,411 34,561 35,780
XAU 13,648,000 0 14,052,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80