Bảo hiểm xe cơ giới: Những vướng mắc đã được tháo gỡ

Hồng Chi
Những bất cập, vướng mắc về quy định bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) chủ xe cơ giới tại quy định hiện hành đã được sửa đổi, bổ sung kịp thời tại Thông tư 22/2016/TT-BTC theo hướng thủ tục được đơn giản hóa, mức bồi thường được nâng lên trong khi phí bảo hiểm chỉ tăng rất ít.
aa

Thông tư 22

Ban chủ tọa Hội nghị tập huấn Thông tư số 22/2016/TT-BTC tại Đà Nẵng.

Ngày 21/3, tại Đà Nẵng, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (QLBH), Bộ Tài chính phối hợp với Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn Thông tư số 22/2016/TT-BTC (Thông tư 22) ngày 16/2/2016 của Bộ Tài chính quy định quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới, tại khu vực miền Trung.

Khắc phục nhiều bất cập

Phát biểu tại Hội nghị, Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (AVI) Phùng Đắc Lộc cho biết, Thông tư 22 đã được ban hành trên sau khi Bộ Tài chính tổ chức hội thảo giữa AVI và Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam cùng các đơn vị liên quan và doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách về quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới; đồng thời xin ý kiến người tham gia bảo hiểm...

Nhờ vậy, theo Phó Cục trưởng Cục QLBH Nguyễn Quang Huyền, Thông tư 22 có nhiều điểm mới ưu việt, thủ tục bồi thường được đơn giản hóa, mức bồi thường được nâng cao, đảm bảo quyền lợi cho người mua bảo hiểm và phù hợp với xu hướng phát triển chung.

Trao đổi với các DNBH tại hội nghị tập huấn, Phó trưởng Phòng phi nhân thọ, Cục QLBH Bùi Thanh Hải cho biết, những điểm bất cập, vướng mắc về quy định bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới như: Mức bồi thường chưa đáp ứng được nhu cầu chữa bệnh khi tai nạn xảy ra, bảng tỷ lệ bồi thường chưa hợp lý, mức phí bảo hiểm chưa phản ánh đúng thực tế rủi ro, ảnh hưởng đến an toàn tài chính của DNBH…, đã được điều chỉnh trong Thông tư 22.

Theo đó, Thông tư 22 thay thế toàn bộ bảng tỷ lệ trả tiền bồi thường bảo hiểm theo quy định mới của liên Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích, bệnh, tật và bệnh nghề nghiệp. Bảng tỷ lệ mới được quy định chi tiết hơn, tăng từ 221 lên 827 trường hợp thương tật (tăng 374%), với cách phân loại đầy đủ, khoa học hơn theo các nhóm thương tật, theo đó, những người bị thương tật như nhau sẽ được bồi thường như nhau.

Đối với những bất cập trong việc bồi thường do lỗi bên thứ ba, hiện mỗi DNBH có cách áp dụng khác nhau, theo đó, Thông tư 22 thống nhất trường hợp lỗi hoàn toàn của bên thứ ba thì mức bồi thường bảo hiểm về người đối với các đối tượng thuộc bên thứ ba bằng 50% mức bồi thường theo quy định.

Đặc biệt, mức bồi thường được nâng cao trong khi phí bảo hiểm không tăng nhiều. Cụ thể, tăng mức trách nhiệm bồi thường lên 25% và 43% so với mức quy định hiện hành. Theo đó, tăng mức trách nhiệm bồi thường từ 70 triệu đồng/ người/vụ lên 100 triệu đồng đối với thiệt hại về người; từ 70 triệu đồng lên 100 triệu đồng đối với thiệt hại về tài sản xe ô tô, xe máy…, trong khi mức phí chỉ tăng từ 10% đến 20% đối với 13 dòng xe có tỷ lệ tai nạn, rủi ro cao.

Chia sẻ với PV TBTCVN, đại diện Bảo hiểm Bảo Việt Đà Nẵng cho rằng, việc sửa đổi những bất cập trong quy định về quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới sẽ tạo thuận lợi cho DNBH trong việc triển khai bảo hiểm xe cơ giới cũng như tạo thuận lợi cho chủ xe.

“Trước đây với bảng tỷ lệ thương tật chỉ có 221 trường hợp khiến DNBH rất khó khăn trong việc chi trả bồi thường chính xác, vì nhiều trường hợp thương tật không có trong bảng bồi thường, DNBH phải vận dụng các trường hợp gần giống, ảnh hưởng đến quyền lợi của DNBH”, đại diện Bảo Việt Đà Nẵng chia sẻ.

Kịp thời giải đáp vướng mắc của DNBH

Trả lời câu hỏi của đại diện Bảo hiểm Bảo Long liên quan đến việc chủ xe mua bảo hiểm 1 tháng sau đó bán xe và cơ quan công an đã thu hồi biển số, vậy DNBH có phải hoàn lại tiền phí bảo hiểm cho chủ xe? Đại diện Cục QLBH cho biết, Điểm 10, khoản 3 Thông tư 22 quy định, xe cơ giới bị thu hồi biển số theo quy định thì trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, DNBH phải hoàn lại cho chủ xe cơ giới 70% phần phí bảo hiểm của thời gian hủy bỏ.

Đánh giá cao những điểm mới quy định tại Thông tư 22 tạo thuận lợi cho DNBH , tuy nhiên đại điện Bảo Việt Đà Nẵng cũng cho rằng, hiện số lượng xe máy tham gia bảo hiểm rất ít, chỉ chiếm khoảng 40%, trong khi đối với xe ô tô tỷ lệ tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDS hơn 90%. Về vấn đề này đại diện Cục QLBH cho biết, hiện Cục QLBH đã và đang phối hợp với AVI, Cục Cảnh sát giao thông đường bộ tăng cường tuần tra kiểm soát việc tham gia bảo hiểm bắt buộc cũng như tăng cường tuyên truyền bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới.

"Theo Thông tư 22, đối với những trường hợp thiệt hại về tài sản ước tính dưới 10 triệu đồng, hồ sơ bồi thường sẽ được rút gọn, tạo thuận lợi cho chủ xe được bồi thường nhanh chóng, giúp chủ xe tin tưởng hơn vào bảo hiểm, tỷ lệ tham gia bảo hiểm sẽ tăng”, đại diện Cục QLBH nhấn mạnh.

Trả lời câu hỏi của Bảo hiểm MIC Nghệ An liên quan đến việc dùng chung giấy chứng nhận bảo hiểm mà nhiều DNBH đang thực hiện có được không? Đại diện Cục QLBH cho biết, theo quy định mới việc sử dụng chung giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện và giấy chứng nhận tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới chỉ áp dụng đối với chủ xe mua bảo hiểm xe máy, còn đối với xe ô tô hai loại giấy chứng nhận này phải tánh riêng và đã được quy định mẫu trong phụ lục của Thông tư 22.

Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Cục trưởng Cục QLBH Nguyễn Quang Huyền nhấn mạnh, những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư 22, đề nghị các DNBH gửi tới Cục QLBH để giải đáp, nhằm triển khai tốt nhất Thông tư 22, tạo điều kiện để thị trường bảo hiểm ngày càng phát triển bền vững./.

Chia sẻ với TBTCVN, ông Trần Xuân Tùng, Phó giám đốc Bảo hiểm Bảo Việt Đà Nẵng cho biết, dù chỉ có ít ngày nữa là tới thời điểm Thông tư 22 có hiệu lực (1/4/2016) nhưng hiện DN này đã sẵn sàng triển khai Thông tư 22. Trên cơ sở hướng dẫn cụ thể của cơ quan quản lý, việc in ấn chỉ bảo hiểm xe cơ giới đang được thực hiện và được tiến hành song song với việc tập huấn thông tư tại các đơn vị, chi nhánh thành viên.

Hồng Chi

Hồng Chi

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

(TBTCO) - Theo Thông tư số 53/2026/TT-NHNN về quản lý rủi ro khi ứng dụng AI ngành ngân hàng, hệ thống AI tự động thanh toán trên 10 triệu đồng/giao dịch với khách hàng cá nhân, trên 50 triệu đồng với tổ chức, hoặc tự động quyết định cấp tín dụng từ 50 triệu đồng trở lên được xếp vào nhóm rủi ro cao. Các đơn vị phải thiết lập công cụ giám sát liên tục.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Sau MB, VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có vốn điều lệ từ 100.000 tỷ đồng, sau khi hoàn tất phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức, nâng vốn thêm hơn 20.660 tỷ đồng. Việc liên tiếp xuất hiện các nhà băng có vốn điều lệ vượt ngưỡng 100.000 tỷ đồng cho thấy "làn sóng" tăng vốn đang diễn ra mạnh mẽ.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 ▲160K 14,310 ▲160K
Trang sức 99.99 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17786 18365
CAD 17653 17927 18547
CHF 30483 30859 31501
CNY 0 3823 3919
EUR 28399 28615 29698
GBP 33443 33831 34763
HKD 0 3166 3369
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14200 14784
SGD 19671 19953 20522
THB 687 750 803
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25660 26040
AUD 17703 17803 18725
CAD 17837 17937 18953
CHF 30707 30737 32322
CNY 3800.7 3825.7 3960.7
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28579 28609 30331
GBP 33715 33765 35536
HKD 0 3315 0
JPY 159.96 160.46 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14321 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19823 19953 20675
THB 0 715.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30