Đấu thầu vàng và những yếu tố tỷ giá

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực hiện khởi động các phiên đấu thầu vàng, để tăng cung vàng miếng đáp ứng nhu cầu thị trường vàng trong nước. Trong bối cảnh này, một trong những yếu tố thị trường quan tâm là việc này có thể gây áp lực ra sao đối với tỷ giá, nhất là trong bối cảnh tỷ giá đã tăng cao thời gian qua.
aa
Đấu thầu vàng và những yếu tố tỷ giá
Tình trạng lượng cung hạn chế và giá vàng miếng SJC luôn được giao dịch với mức giá cao hơn rất nhiều so với những loại vàng khác. Ảnh tư liệu

Đấu thầu vàng kết hợp kiểm soát thị trường

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cơ quan này đã có Văn bản số 3003/NHNN-QLNH gửi Bộ Công an đề nghị phối hợp thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao tại Nghị định số 24/2012/NĐ-CP; nhiệm vụ, giải pháp bình ổn và quản lý thị trường vàng được giao tại các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, NHNN cũng đề nghị Bộ Công an phối hợp cùng NHNN trong tổ chức hoạt động đấu thầu vàng miếng SJC để đảm bảo hoạt động đấu thầu được an toàn, hiệu quả.

Trước đó, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cũng cho biết, một trong những giải pháp của NHNN thời gian tới là thực hiện tăng cung vàng miếng để xử lý tình trạng chênh lệch cao của giá trong nước so với giá thế giới. Như vậy, việc NHNN “tái khởi động” giải pháp đấu thầu vàng đồng nghĩa chấm dứt tình trạng số lượng vàng miếng SJC bị bó cứng trong cả một giai đoạn dài. Trước đó, việc đấu thầu vàng miếng được thực hiện trong năm 2013, nhưng sau đó đã dừng lại. Từ đó đến nay, số lượng vàng miếng SJC trên thị trường không được sản xuất thêm nữa dẫn đến tình trạng lượng cung hạn chế và giá vàng miếng SJC luôn được giao dịch với mức giá cao hơn rất nhiều so với những loại vàng khác dù có cùng tuổi vàng như nhau.

Cùng với giải pháp tái khởi động việc dập thêm vàng miếng SJC và đưa lên sàn đấu thầu cung ứng ra thị trường, NHNN cũng đang tiếp tục thực hiện nhiều giải khác để thể hiện quyết tâm bình ổn thị trường vàng. Ông Phạm Thanh Hà cho biết, NHNN đang đồng thời thực hiện công tác kiểm tra hoạt động kinh doanh vàng của các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng trên toàn quốc vào các năm 2022, 2023… Trong đó, cơ quan này cũng đã phối hợp với các cơ quan liên quan thành lập xong đoàn thanh tra và sẽ triển khai ngay trong tháng 4 này.

Mối liên hệ với tỷ giá

Tỷ giá hạch toán ngoại tệ tháng 11/2023

Việc tăng cung vàng miếng thông qua giải pháp đấu thầu vàng được kỳ vọng sẽ giúp làm hạ nhiệt thị trường vàng, đặc biệt có thể giúp giảm chênh lệch giá vàng miếng với các loại vàng khác cũng như chênh lệch với giá thế giới. Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là để để có vàng đấu thầu, NHNN sẽ phải chi ngoại tệ ra nhập khẩu vàng nguyên liệu, sau đó dập thành vàng miếng đưa ra đấu thầu. Thực tế này dẫn đến một số ngại cho rằng, việc chi ngoại tệ nhập khẩu vàng rất có thể gây ra các ảnh hưởng làm tăng tỷ giá.

Trong khi đó, tỷ giá cũng đang là một đề tài gây chú ý trên thị trường tài chính thời gian gần đây. Tỷ giá đã có xu hướng tăng trong quý I/2023 và tiếp tục tăng mạnh trong tháng 4/2023. Đến thời điểm hiện tại, tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại cũng đã vượt mốc trên 25.400 đồng/USD. Theo các chuyên gia kinh tế, áp lực tỷ giá thời gian qua đến từ nguyên nhân cả bên trong lẫn bên ngoài.

Yếu tố bên ngoài do sự “trỗi dậy” của giá đồng USD trên thị trường quốc tế, do ảnh hưởng của việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có thể sẽ lùi kế hoạch hạ lãi suất. Sau khi các số liệu kinh tế vĩ mô của Mỹ được công bố trong tháng 4, các công cụ dự báo về hành động của FED chuyển trạng thái về kịch bản FED sẽ hạ lãi suất lần đầu vào tháng 6/2024 theo dự báo cũ, sang khoảng tháng 9/2024.

Trong khi đó, yếu tố bên trong gây áp lực lên tỷ giá đến từ sự phục hồi của nền kinh tế. Các doanh nghiệp đã bắt đầu có những động thái phục hồi thị trường xuất khẩu và đã tiêu thụ bớt hàng tồn kho dẫn đến gia tăng nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu phục vụ cho các chu kỳ sản xuất kinh doanh mới.

Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng, áp lực tỷ giá thời điểm này tuy có, nhưng cũng là yếu tố tạm thời. TS. Châu Đình Linh - giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào chu kỳ tạm nhập tái xuất. Do đó, nhu cầu nhập khẩu tăng có thể tạo áp lực tỷ giá trong một thời gian nào đó, nhưng sau đó lượng hàng đó chuyển sang giai đoạn tiêu thụ xuất khẩu sẽ chuyển sang trạng thái thu ngoại tệ trở lại.

Ngoài ra, tỷ giá tăng thời gian qua tuy là yếu tố đáng quan tâm, nhưng diễn biến này chưa thực sự quá “nghiêm trọng”, bởi tỷ giá tăng (đồng nghĩa với đồng VND mất giá so với USD) nằm trong xu hướng của toàn cầu, chứ không phải do đồng tiền Việt Nam bị suy yếu. Cụ thể, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD hiện đã vượt mức 106 điểm. So với thời điểm đầu năm 2024, chỉ số DXY đã tăng khoảng hơn 5%, tương ứng với đồng tiền này đã tăng giá khoảng 5% so với 6 đồng tiền chủ chốt khác của thế giới (Euro châu Âu, Yên Nhật, Bảng Anh, Đô la Canada, Krona Thụy Điển, Franc Thụy Sỹ).

Trong khi đó, tỷ giá VND/USD từ đầu năm đến nay chỉ tăng khoảng 4,9%. Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, 4,9% thực là mức tăng thấp so với mức tăng 5% của DXY so với 6 ngoại tệ trên vì còn phải so sánh trên cơ sở quy mô của nền kinh tế của ta rất nhỏ so với các quốc gia có đồng tiền tệ nêu trên.

Đảm bảo nguồn nguyên liệu cho vàng trang sức

Bên cạnh việc thực hiện tăng cung cho vàng miếng, NHNN cũng thực hiện các giải pháp điều tiết thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ, tiếp tục theo hướng tạo điều kiện tối đa nhằm đảm bảo đủ nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu vàng trang sức mỹ nghệ.

Chí Tín

Đọc thêm

Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

(TBTCO) - Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, OCB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 2.470 tỷ đồng, tăng 30,5% so với cùng kỳ. Kết quả được hỗ trợ bởi nguồn thu ngoài lãi tăng 78%, trong khi lãi thuần duy trì đà tăng nhờ tín dụng tiếp tục mở rộng. Dư nợ thị trường 1 của OCB đạt 227.554 tỷ đồng, cao hơn mức tăng toàn ngành.
HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

(TBTCO) - Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

(TBTCO) - Đánh giá thị trường vàng, đá quý vừa qua diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người dân, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang đề nghị Quốc hội giám sát làm rõ trách nhiệm về quản lý thị trường vàng, từ đó làm căn cứ hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng khung xử phạt với các hành vi làm giả vàng, đá quý.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 76 USD/ounce lên 4.094 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng điều chỉnh tăng trở lại.
Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

(TBTCO) - Ngân hàng NCB báo lãi sau thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 726,7 tỷ đồng, tăng 57% cùng kỳ, trong đó quý II lập kỷ lục với hơn 510 tỷ đồng. Cùng kết quả kinh doanh khởi sắc, tín dụng tăng 37% đưa dư nợ cho vay khách hàng lên hơn 133.500 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, đưa ngân hàng tiến gần mục tiêu hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲50K
Trang sức 99.9 13,510 ▲150K 14,210 ▲150K
Trang sức 99.99 13,520 ▲150K 14,220 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,392 ▲15K 14,322 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,392 ▲15K 14,323 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,387 ▲15K 1,427 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,387 ▲15K 1,428 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 ▲15K 1,407 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▲1485K 139,307 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▲86410K 105,686 ▲95230K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▲1021K 95,836 ▲1021K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▲68659K 85,986 ▲77479K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▲874K 82,186 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▲626K 58,828 ▲626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17901 18175 18750
CAD 18206 18482 19099
CHF 31911 32292 32926
CNY 0 3850 3942
EUR 29601 29822 30900
GBP 34527 34919 35856
HKD 0 3217 3419
JPY 156 160 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15100 15685
SGD 19910 20192 20767
THB 701 764 817
USD (1,2) 25993 0 0
USD (5,10,20) 26034 0 0
USD (50,100) 26063 26072 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,079 26,079 26,459
USD(1-2-5) 25,036 - -
USD(10-20) 25,036 - -
EUR 29,652 29,676 30,995
JPY 159.2 159.49 169.11
GBP 34,708 34,802 36,012
AUD 18,112 18,177 18,863
CAD 18,393 18,452 19,128
CHF 32,159 32,259 33,217
SGD 20,036 20,098 20,892
CNY - 3,818 3,963
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.9 17.62 19.17
THB 749.01 758.26 811.76
NZD 15,084 15,224 15,676
SEK - 2,705 2,800
DKK - 3,977 4,117
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,006.63 - 6,778.77
TWD 731.72 - 886.37
SAR - 6,876.19 7,242.45
KWD - 83,066 88,376
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,070 26,095 26,475
EUR 29,717 29,836 31,032
GBP 34,756 34,896 35,929
HKD 3,283 3,296 3,413
CHF 32,055 32,184 33,119
JPY 159.63 160.27 168.23
AUD 18,136 18,209 18,807
SGD 20,126 20,207 20,801
THB 767 770 806
CAD 18,421 18,495 19,078
NZD 15,183 15,730
KRW 17.52 19.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26460
AUD 18092 18192 19118
CAD 18382 18482 19498
CHF 32136 32166 33752
CNY 3830.5 3855.5 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29775 29805 31533
GBP 34817 34867 36628
HKD 0 3355 0
JPY 159.91 160.41 170.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15199 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20069 20199 20925
THB 0 730.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,500
USD20 26,050 26,150 26,554
USD1 26,000 26,150 26,604
AUD 18,149 18,249 19,368
EUR 29,597 29,697 31,366
CAD 18,340 18,440 19,754
SGD 20,161 20,311 20,877
JPY 160.58 162.08 167.68
GBP 34,738 34,888 36,059
XAU 13,768,000 0 14,172,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80