Doanh thu phí bảo hiểm tăng vọt nửa đầu năm, lãi ABIC vẫn "giậm chân tại chỗ"

Ánh Tuyết
Báo cáo tài chính quý II/2025 của Bảo hiểm ABIC cho thấy, dù doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng mạnh 17,8% trong nửa đầu năm, nhưng chi phí đội lên cùng lợi nhuận tài chính giảm hơn 10% cùng kỳ, khiến lợi nhuận trước thuế gần như đi ngang, đạt 182,8 tỷ đồng.
aa
Tổng Giám đốc bất ngờ từ nhiệm trước đại hội, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu 2025 ra sao? Chờ "thuyền trưởng" mới, Bảo hiểm ABIC sẽ bứt tốc? Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm ABIC: Đưa lợi nhuận tăng vọt, tham gia bảo hiểm gói tín dụng 83.000 tỷ đồng

Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (ABIC - Mã Ck: ABI) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2025.

Chi phí đội lên hơn 20%

Báo cáo tài chính do ABIC công bố cho thấy, trong quý II/2025, hoạt động kinh doanh của Bảo hiểm ABIC ghi nhận điểm sáng từ tăng trưởng doanh thu nhưng đối mặt áp lực lớn từ chi phí, khiến lợi nhuận suy giảm so với cùng kỳ.

Lãi trước thuế trên 180 tỷ đồng, đi ngang cùng kỳ

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, Bảo hiểm ABIC tăng chi bồi thường và tổng chi trực tiếp lần lượt 14,1% và 20,8%. Lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 416,6 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,3% cùng kỳ; trong khi đó, lợi nhuận hoạt động tài chính giảm 10,2%. Sau khi trừ đi các khoản chi phí, lợi nhuận trước thuế vẫn đạt 182,8 tỷ đồng, đi ngang so với cùng kỳ.

Cụ thể, doanh thu phí bảo hiểm đạt 703,5 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ; trong đó, phí bảo hiểm gốc đạt 705,4 tỷ đồng, tăng 19,5% cùng kỳ.

Doanh thu phí bảo hiểm thuần và doanh thu thuần đều tăng khá tốt, lần lượt tăng 9,2% và 10,6%, phản ánh hiệu quả khai thác bảo hiểm tiếp tục được duy trì.

Tuy nhiên, điểm trừ lớn đến từ mặt chi phí. Chi phí bồi thường quý II/2025 tăng mạnh 20,8%, lên 247,3 tỷ đồng. Cùng với đó, tổng chi trực tiếp cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng tăng 21,9%, tương ứng tăng gần 77 tỷ đồng lên 426,5 tỷ đồng.

Doanh thu phí bảo hiểm tăng vọt nửa đầu năm, lãi ABIC vẫn
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Kết quả, trong quý II/2025, lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm giảm 6,9% so với cùng kỳ, chỉ đạt 211,2 tỷ đồng. Do chi phí quản lý tiết giảm không đáng kể, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính còn 44,8 tỷ đồng, sụt giảm 23% cùng kỳ. Lợi nhuận hoạt động tài chính cũng giảm 4,2% còn 36,6 tỷ đồng, dù khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của Bảo hiểm ABIC tăng 5% lên kỷ lục 3.314 tỷ đồng.

Sau khi trừ đi các chi phí, lợi nhuận trước thuế quý II/2025 của Bảo hiểm ABIC còn 81,7 tỷ đồng, giảm 15,2% dù doanh thu tăng.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, ABIC ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm đạt 1.323,8 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ; trong đó, phí bảo hiểm gốc đạt 1.287 tỷ đồng, tăng 17,8% cùng kỳ.

Năm 2025, Đại hội đồng cổ đông đặt mục tiêu đạt doanh thu kinh doanh bảo hiểm 2.650 tỷ đồng; doanh thu đầu tư tài chính 140 tỷ đồng; tỷ suất sinh lời/vốn chủ sở hữu (ROE) tối thiểu 15%/năm, lợi nhuận trước thuế tối thiểu 315 tỷ đồng; cổ tức tối thiểu 14%/1 cổ phần. Sau nửa đầu năm, Bảo hiểm ABIC đạt 51% kế hoạch về doanh thu đầu tư tài chính, 58% kế hoạch về chỉ tiêu lãi trước thuế.

Thống kê cho thấy, giai đoạn 2022 - 2024, ABIC ngày càng phụ thuộc vào lợi nhuận tài chính khi tỷ trọng đóng góp từ kênh này tăng vọt, nâng tỷ trọng từ dưới 40% lên tới 50 - 60% tổng lợi nhuận trước thuế. Trong khi đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vốn là trụ cột cốt lõi, lại thể hiện dấu hiệu hụt hơi rõ rệt. Sang nửa đầu năm 2025, khi lợi nhuận từ đầu tư tài chính giảm hơn 10%, mảng kinh doanh bảo hiểm vẫn không có cải thiện đáng kể.

Sắp tăng vốn gần 40%, dự kiến "chuyển nhà" sau năm 2027

Liên quan đến kế hoạch tăng vốn, Bảo hiểm ABIC vừa thông qua Nghị quyết Hội đồng Quản trị về việc tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu để trả cổ tức năm 2024 và phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Doanh thu phí bảo hiểm tăng vọt nửa đầu năm, lãi ABIC vẫn
Doanh thu phí bảo hiểm tăng vọt nửa đầu năm, lãi ABIC vẫn "giậm chân tại chỗ". Ảnh: T.L.

Nguồn vốn sử dụng bao gồm lợi nhuận sau thuế chưa phân phối theo phương án phân phối lợi nhuận đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 phê duyệt và quỹ đầu tư phát triển được thể hiện trên báo cáo tài chính năm 2024 đã kiểm toán.

ABIC dự kiến phát hành gần 29 triệu cổ phiếu, tương đương 40% lượng cổ phiếu đang lưu hành, gồm cổ phiếu trả cổ tức và phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu. Sau phát hành, vốn điều lệ sẽ tăng thêm 289,6 tỷ đồng, lên mức 1.013,5 tỷ đồng.

Trước những băn khoăn xung quanh kế hoạch, lộ trình và phương án tăng vốn chưa rõ ràng, chia sẻ gần đây, lãnh đạo Bảo hiểm ABIC cho biết, theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, Nghị định 46/2023/NĐ-CP; Thông tư 67/2023/TT-BTC, các doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo nguồn vốn đối xứng với quy mô rủi ro.

ABIC sẽ triển khai kế hoạch tăng vốn nhằm chủ động đáp ứng kịp thời các yêu cầu pháp lý mới, đồng thời đảm bảo nền tảng tài chính an toàn cho hoạt động kinh doanh trong giai đoạn tới.

Về kế hoạch mở rộng mạng lưới hệ thống, ABIC vẫn có nhu cầu mở rộng hệ thống mạng lưới để tăng tiềm năng khai thác tương xứng với quy mô các chi nhánh và phòng giao dịch của ngân hàng mẹ. Kế hoạch thành lập chi nhánh mới của ABIC sẽ được thực hiện sau khi ngân hàng mẹ hoàn tất việc sắp xếp, điều chỉnh lại cơ cấu hệ thống chi nhánh theo đề án sáp nhập tỉnh, thành trên cả nước.

Ngoài ra, ABIC cũng dự kiến thực hiện việc niêm yết sau năm 2027, nhằm đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan đến yêu cầu về vốn, đối xứng với quy mô, rủi ro, cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn về quản trị và điều kiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán chính thức như HNX hay HoSE./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80