Giá USD mua vào ở Vietinbank, Vietcombank đã đẩy lên tới 21.805 đồng

Đỗ Minh
Tỷ giá VND/USD niêm yết tại các ngân hàng thương mại cổ phần đã tăng lên mạnh và tỷ giá này ở một số ngân hàng chỉ còn cách trần cứng khoảng 20 đồng/USD. Điều đáng lưu ý là việc giá USD mua vào ở Vietcombank và Vietinbank hiện đã đẩy lên tới 21.805 đồng/USD.
aa

Tỷ giá VND/USD đồng loạt áp sát mức trần

Tại thời điểm cuối buổi chiều ngày 25/5, tỷ giá VND/USD đã được niêm yết tăng lên khá mạnh ở tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần. Trong đó mức giá bán ra cao nhất đã lên tới 21.870 đồng/USD, còn mức giá mua vào hiện đứng ở mức cao nhất cũng lên tới 21.805 đồng/USD.

Hiện tại 2 ngân hàng là Eximbank và Techcombank đang có mức giá bán ra cao nhất là 21.870 đồng/USD- tăng hơn 30 đồng/USD ở Eximbank và tăng 25 đồng/USD ở Techcombank. Còn giá mua vào ở Eximbank là 21.790 đồng/USD, giá mua vào ở Techcombank là 21.780 đồng/USD, (tăng 30 đồng/USD so với mức tỷ giá cuối tuần trước).

ACB là ngân hàng đang niêm yết mức giá bán ra thấp hơn một chút ở mức 21.865 đồng/USD, còn giá mua vào là 21.785 đồng/USD - tăng 20 đồng/USD ở chiều bán ra và 35 đồng/USD ở chiều mua vào so với mức tỷ giá cuối tuần trước.

Còn giá USD ở chiều bán ra, hiện tại Vietcombank là ngân hàng mức niêm yết cao nhất với mức mua vào ở mức 21.805 đồng/USD, còn ở chiều bán ra niêm yết ở mức 21.865 đồng/USD - tăng 35 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với mức tỷ giá cuối tuần trước.

Vietinbank đang niêm yết ở mức 21.805 – 21.860 đồng/USD (tăng 35 đồng/USD ở chiều mua vào và 20 đồng/USD ở chiều bán ra so với cuối tuần trước.

BIDV hiện đang niêm yết ở mức 21.800 – 21.860 đồng/USD (mua vào – bán ra), tăng 20 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với cuối tuần trước.

Còn ở các ngân hàng thương mại khác, tỷ giá VND/USD ở chiều bán ra hầu hết đã niêm yết đứng ở mức 21.860 đến 21.865 đồng/USD. Trong đó, ngân hàng HSBC đang niêm yết ở mức 21.760 – 21.860 đồng/USD; SHB đang niêm yết ở mức 21.795 – 21.860 đồng/USD; Sacombank đang đứng ở mức 21.780 – 21.860 đồng/USD; TPBank đang niêm yết ở mức 21.780 – 21.860; VIB đang niêm yết ở mức 21.785 – 21.865 đồng/USD…

Điều khác biệt trong niêm yết tỷ giá tại thời điểm cuối ngày 25/5, đó là 3 ngân hàng thương mại cổ phần lớn là Vietcombank, Vietinbank và BIDV đã chấp nhận nâng mức giá USD ở chiều mua vào lên cao hơn hầu hết các ngân hàng thương mại khác.

Còn ở chiều bán ra ở 3 ngân hàng này hiện cũng chỉ còn cách trần cứng cho phép là 30 đồng/USD.

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang công bố áp dụng mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 25/5 là 21.673 đồng/USD; Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng mức tỷ giá mua vào – bán ra ngày 25/5 là 21.600 – 21.820 đồng/USD (mua vào – bán ra). Mức giá này ở Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước đang thấp hơn khá nhiều so với mức tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại cổ phần.

Giá vàng tiếp tục thụt lùi

Còn ở trên thị trường vàng phiên giao dịch đầu tuần, giá vàng SJC đã tiếp tục lùi bước. Cụ thể, đóng cửa phiên giao dịch ngày 25/5, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá trực tuyến của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh đứng ở mức 34,91 – 34,97 triệu đồng/lượng, tại Hà Nội và các địa phương khác đứng ở mức 34,91 – 34,99 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Còn trên bảng giá trực tuyến của Tập đoàn DOJI, giá vàng SJC đóng cửa phiên giao dịch ngày 25/5 tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đứng đồng mức giá 34,97 triệu đồng/lượng, còn mức giá mua lẻ là 34,93 triệu đồng/lượng, mức giá mua buôn là 34,94 triệu đồng/lượng.

Mức giá vàng SJC hiện tại đã tiếp tục giảm tiếp khoảng 20 ngàn đồng/lượng so với mức giá đóng cửa cuối tuần trước.

Còn trên thị trường thế giới, giá vàng tuy vẫn đang giữ trên mức giá 1.200 USD/ounce, tuy nhiên diễn biến giá chỉ diễn ra trong biên độ hẹp và ở mức thấp hơn so với mức giá đóng cửa cuối tuần trước.

Cụ thể, tại thời điểm 18 giờ 37 phút chiều 25/5 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay niêm yết trên sàn giao dịch Kitco của Singapore đang đứng ở mức 1.203,99 USD/ounce.

Qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giá vàng thế giới đang tương đương khoảng 31,73 triệu đồng/lượng, thấp hơn mức giá bán ra của giá vàng SJC áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh của Tập đoàn DOJI khoảng 3,24 triệu đồng/lượng.

gia vang the gioi
Giá vàng thế giới hiện đang lùi về sát mốc 1.200 đồng/USD. Nguồn: kitco.com

Giá vàng trên thị trường châu Á hiện chủ yếu được giao dịch ở gần mức thấp nhất trong hơn một tuần qua, sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Janet Yellen cho biết, có khả năng Fed sẽ nâng lãi suất trong năm nay. Trong khi đó, giá đồng USD đã vọt lên cao nhất trong vòng một tháng qua cũng là một nhân tố chi phối thị trường vàng.

Bên cạnh đó, theo phân tích của hãng tin Reuters, nhu cầu vàng trên toàn châu Á khá yếu do nhà đầu tư chuyển hướng dồn tiền sang thị trường cổ phiếu có lợi nhuận cao hơn. Còn nhu cầu vàng nữ trang tại Ấn Độ trong nửa cuối năm nay có thể sẽ bị ảnh hưởng do theo lịch Ấn Độ, số ngày "đẹp" để kết hôn trong nửa cuối năm nay giảm tới 40% so với cùng kỳ năm ngoái./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

(TBTCO) - Tháng 9/2026 tại New York (Mỹ), trong Global Strategy Summit 2026, Hội nghị đối thoại chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo do McKinsey & Company tổ chức, Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy đã chia sẻ những góc nhìn về những vấn đề đang đặt ra với nhiều doanh nghiệp trên thế giới: tăng trưởng bền vững trước áp lực ngắn hạn, nhận diện xu hướng nhưng không chạy và chuẩn bị con người trước những thay đổi mà AI tạo ra.
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17737 18010 18586
CAD 17884 18158 18774
CHF 30769 31146 31793
CNY 0 3829 3925
EUR 28931 29150 30231
GBP 33583 33971 34909
HKD 0 3183 3386
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14428 15015
SGD 19774 20056 20626
THB 692 755 808
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26180
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25815 25815 26175
AUD 17927 18027 18950
CAD 18076 18176 19190
CHF 31010 31040 32621
CNY 3811.8 3836.8 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33873 33923 35694
HKD 0 3315 0
JPY 160.21 160.71 171.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14537 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20780
THB 0 721.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 25/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30